Feelings

Read more ...

Bác ái trong chân lý (quan điểm Công giáo)


Dẫn nhập



Chân lý là gì? Tìm chân lý ở đâu?



Bác ái là gì?



Bác ái trong chân lý muốn nói điều gì?



Bác ái trong tương quan đời sống gia đình

Read more ...

Dòng nhạc soul : tìm lại cội nguồn



Ray Charles, một trong 4 gương mặt thuộc hàng Tứ quý của nhạc Soul
Ray Charles, một trong 4 gương mặt thuộc hàng Tứ quý của nhạc Soul
Tuấn Thảo
Trên thị trường băng đĩa, vào lúc các thể loại pop rock, RnB hip hop, electro điện tử thống trị làng nhạc quốc tế, thì một số nghệ sĩ tiếp tục duy trì dòng nhạc soul. Tiêu biểu nhất là các album gần đây của Seal, Angie Stone, Alicia Keys, Mary J Blige, Lisa Stansfield và Mick Hucknall, ca sĩ chính của nhóm Simply Red.


Giai đoạn cực thịnh của dòng nhạc soul là giữa những năm 1970, nhưng thể loại này đã manh nha từ hai thập niên trước đó, vì nó kết hợp ảnh hưởng của dòng nhạc gospel (Phúc âm) và rythm and blue. Nếu như các bản nhạc soul thường có giai điệu du dương, phần hoà âm phối khí được soạn kỹ, thì quan trọng hơn cả vẫn là chất giọng của người hát : kỹ thuật chuyển âm điêu luyện, cách thể hiện đầy ngẫu hứng. Người trình bày càng có nhiều kinh nghiệm từng trải trong cuộc sống cá nhân, thì cách diễn đạt của họ càng nhập tâm và có hồn.

Tạp chí Ebony gần đây đã tổ chức một cuộc thăm dò ý kiến độc giả để bình chọn những giọng ca xuất sắc nhất làng nhạc soul. Kết quả cho thấy là trong số 10 tên tuổi về đầu trên danh sách này, có hai nhóm trứ danh của hãng đĩa Tamla Motown ở thành phố Detroit : đó là hai ban nhạc The Temptations và The Supremes. Các giọng ca nam như Sam Cooke, Jackie Wilson, Al Green, các giọng ca nữ như Tina Turner hay Gladys Knight đã tạo ra một phong cách thể hiện sinh động, khác hẳn với lối hát truyền thống của nhạc soul trong giai đoạn sơ khai. Về phần mình, Stevie Wonder là người đầu tiên đã đưa nhạc khí điện tử (synthesizer) vào dòng nhạc này, sáng tác của anh giàu tính thể nghiệm nhờ giai điệu đa tầng hợp âm. Trên bảng vàng của Ebony, có 4 gương mặt được liệt vào hàng Tứ Quý (Aretha Franklin – Ray Charles – James Brown – Marvin Gaye) vì mỗi người đã làm giàu nhạc soul khi kết hợp thể loại này với ảnh hưởng của các dòng nhạc khác.

Trong trường hợp của Ray Charles, các bản nhạc mang dấu ấn sâu đậm của rythm and blue, chuyên sử dụng những phân đoạn ngắn được lặp đi lặp lại nhiều lần, tạo ra trong nhạc nền một nhịp điệu căn bản, để cho Ray Charles tha hồ mà biến tấu, tung hoành theo ngẫu hứng. James Brown thì xứng đáng với mệnh danh Bố già của làng nhạc soul, khi cộng hưởng với dòng nhạc funk, giai điệu vẫn quyến rũ du dương, nhưng đầy nam tính nhờ nhịp điệu rắn chắc cứng cỏi. Về phần mình, Marvin Gaye với lối hát biểu cảm mơn trớn, lại tiêu biểu cho trường phái Philadelphia, tạo ra những âm sắc mềm mại mượt mà, còn được gọi là philly sound. Marvin Gaye sau đó đã mở đường cho nhiều giọng ca crooner của làng nhạc soul, điển hình là Barry White mà nhiều người sau đó thường nói đùa rằng : chỉ cần nghe tiếng nhạc trổi lên, là người ta lại nghĩ đến chuyện chăn gối, với Marvin Gaye nhạc soul không chỉ để diễn tả thổn thức của tâm hồn mà còn để nói lên tất cả những cung bậc cảm xúc của tình yêu xác thịt (Sexual Healing). Đâu đó nhạc soul xuất phát từ tâm hồn, nhưng lại học hỏi từ sự trải nghiệm của dục vọng xác thịt (the soul learns from the flesh).

Trong 4 cây đại thụ, giọng ca thiên phú của nữ hoàng Aretha Franklin được xếp vào hạng đầu. Xuất thân từ các ca đoàn nhà thờ chuyên thể hiện dòng nhạc phúc âm, Aretha Franklin có cái biệt tài hớp hồn khán giả mỗi khi xuất hiện trên sàn diễn. Lối thể hiện của ca sĩ này phóng khoáng điêu luyện đến mức xuất thần. Aretha Franklin không đơn thuần ca hát mà lại thả hồn vào nốt nhạc, chết đi trong mỗi nhịp chớp mắt, để rồi sống lại từng giai điệu khoảnh khắc. Không phải ngẫu nhiên mà Aretha Franklin sau khi được tạp chí Rolling Stones bình chọn làm Giọng ca hay nhất mọi thời đại, nay lại được trao tặng cái biệt danh Huyền thoại sáng chói nhất dòng nhạc soul.

Do ảnh hưởng của gospel, nên khá nhiều ca khúc nhạc soul nổi tiếng đã được chuyển thể từ phúc âm. Khác biệt rõ nhất nằm ở trong ca từ, vì hầu hết các bài gospel là nhằm ngợi ca niềm tin nơi Đức Chúa. Một khi được cải biên thành nhạc soul, các bài hát phản ánh đời thường nhiều hơn là cuộc sống tâm linh, và đôi khi lời thanh lại tiềm ẩn nghĩa tục. Các ca sĩ như Ray Charles (Georgia in my mind), Percy Sledge (When a man loves a woman), Otis Redding (Sitting on the dock of the bay) đều đã từng chuyển thể gospel và một trong những trường hợp tiêu biểu nhất là bài Stand by me của Ben E. King, gợi hứng từ một bản nhạc phúc âm, sáng tác vào đầu thế kỷ 20 ( nói chính xác hơn là bài được sáng tác năm 1905, ghi âm lần đầu năm 1916). Phiên bản mới nhất của bài này do ca sĩ Seal thể hiện, bài được trích từ album gần đây nhát của anh mang tựa đề Soul.

Từ giai đoạn manh nha cho đến khi thành hình, nhạc soul hầu như lúc nào cũng được xem như là sở trường của người da đen, nhưng với thời gian đã cho ra đời các giọng ca soul da trắng. Đó là trường hợp của Joss Stone, Robin Thicke và Lisa Stansfield. Kết hợp với các phong trào thời nay, các nghệ sĩ này khi thì chuyển sang dòng nhạc urban pop, lúc thì sáng tác theo trường phái Nu soul, giữ nguyên cốt cách nhưng làm mới trong cách hòa âm phối khí. Gương mặt nổi trội hơn cả là Mick Hucknall, ca sĩ chính của ban nhạc người Anh Simply Red. Nhạc phẩm Holding back the years do chính anh sáng tác nói về những mãnh vỡ trong tâm hồn của một người đàn ông. Một vết thương thầm kín có từ thuở ấu thơ vì bị người mẹ bỏ rơi khi anh vừa lên ba. Còn trong bài If you don’t know me by now, anh lấy lại một ca khúc nổi tiếng của ca sĩ Harold Melvin hát với nhóm Blue notes. Nhờ vào chất giọng thiên phú mà phiên bản của anh hay hơn nhiều so với nguyên tác.

Nhắc đến nhạc soul, nhiều chuyên gia thường hay dùng nghịch dụ, mô tả dòng nhạc này như một cơn bão nhẹ nhàng, một niềm vui cay đắng. Các giai điệu mượt mà bóng bẩy nhưng lại thể hiện những tình cảm mãnh liệt âm thầm, những mạch ngầm nhức nhối trong nội tâm. Tạp chí Ebony ghi nhận là trong số các huyền thoại của làng nhạc soul, có nhiều gương mặt bất hạnh từ tuổi thơ, Stevie Wonder hay Ray Charles khiếm thị không phải do bẩm sinh mà do xuất thân từ các gia đình nghèo, thiếu chăm sóc khi lâm bệnh. Marvin Gaye hay Otis Redding đều chết bất đắc kỳ tử. Hoàn cảnh nghèo khổ khó khăn, dễ dẫn đến ngục tù, phạm pháp, nghiện ngập thường được thấy ở các nghệ sĩ sinh trưởng ở các tiểu bang miền nam Hoa Kỳ, trước khi có phong trào chống kỳ thị chủng tộc và đòi quyền bình đẳng cho người đa đen. Nhưng có lẽ trong dấu ấn của nỗi bất hạnh truyền kiếp đó, lại thăng hoa rất nhiều tài năng hiếm thấy trong làng âm nhạc.

Nếu không có sự trải nghiệm bản thân, thì tài năng của một số ca sĩ nhạc soul chỉ dừng lại ở chỗ phô diễn điêu luyện kỹ thuật, luyện thanh nhuần nhuyễn. Nhiều ca sĩ trẻ thời nay tiếp tục duy trì ảnh hưởng của dòng nhạc này, nhưng chỉ với sự chiêm nghiệm thấm thía, thì họ mới tìm lại được một cách trọn vẹn cội nguồn của nhạc soul, chỉ thật sự mãnh liệt khi nhức nhối con tim, đau nhói tâm hồn.

Read more ...

Paris vinh danh Monet, cha đẻ trường phái ấn tượng




Tác phẩm Femme au jardin ( Người phụ nữ trong vườn) của danh họa Claude Monet.
Tác phẩm Femme au jardin (Người phụ nữ trong vườn) của danh họa Claude Monet. Musée de l’Ermitage
Tuấn Thảo
Nếu từ đây cho đến cuối tháng giêng, bạn có dịp viếng thăm Paris; và nếu vì lý do thời gian, bạn chỉ có thể xem một cuộc triển lãm duy nhất : vậy thì bạn nên ghé thăm Grand Palais. Từ ngày 22/9 đến 24/1 năm tới, viện bảo tàng này trưng bày trên dưới 170 bức tranh của Claude Monet, bậc thầy vĩ đại của trường phái ấn tượng.

Cuộc triển lãm các tác phẩm của Claude Monet (1840 – 1926) được xem như là sự kiện văn hóa hàng đầu tại Paris mùa thu năm nay. Lần trước, nước Pháp tổ chức một cuộc triển lãm lớn về Monet là cách đây vừa đúng 30 năm (1980), cũng tại Grand Palais. Sự khác biệt lần này là số lượng các tác phẩm mà Paris đã mượn được từ các viện bảo tàng nước ngoài cũng như từ các nhà sưu tầm tư nhân. Trong số khoảng 170 bức tranh, có gần 20 tấm được liệt vào hàng cực kỳ hiếm thấy, bởi vì các tác phẩm này ít khi nào được đem ra trưng bày trước công chúng.

Ông Guy Cogeval hiện là giám đốc của hai viện bảo tàng Orsay và Orangerie tại Paris, được xem là nơi lưu trữ khá nhiều bức tranh của Claude Monet. Ông cho biết là vào những năm cuối đời, danh họa Monet đã tặng một số tác phẩm nổi tiếng cho nhà nước Pháp, trong đó có bộ tranh Nymphéas (Hoa súng). Ông Guy Cogeval giải thích vì sao ông đã muốn tổ chức một cuộc triển lãm bề thế, đồ sộ như vậy:

‘‘Tôi đã sống nhiều năm ở Bắc Mỹ. Trước khi trở về Paris để điều hành viện bảo tàng Orsay, tôi từng làm giám đốc viện bảo tàng Mỹ thuật tại Montreal. Trong thời gian này, tôi đã được dịp xem nhiều cuộc triển lãm về Monet ở Hoa Kỳ cũng như ở Canada, trong đó, có việc trưng bày các tác phẩm cuối đời của danh họa Monet do viện bảo tàng Tate Gallery cho mượn. Tôi lúc đó thật sự bị choáng ngợp và tôi ý thức được một điều : Monet chẳng những là một trong những gương mặt tài ba nhất ngành hội họa hậu bán thế kỷ thứ 19, mà ông còn là danh họa người Pháp được yêu quý nhất ở nước ngoài. Chỉ cần đi sang các nước Anh Mỹ, ta sẽ thấy các tác phẩm của Monet được tôn vinh và được trưng bày khá thường xuyên tại các viện bảo tàng lớn. Trở về Pháp, tôi tự hỏi vì sao Paris không vinh danh một tên tuổi mà người ngoại quốc hằng ngưỡng mộ, những tác phẩm mà các nước ngoài xem là tiêu biểu cho văn hóa Pháp. Nếu như trong những năm tháng đầu đời, Monet bị chỉ trích vì ông có tư tưởng tiên phong, đi trước một số nghệ sĩ cùng thời, thì từ những năm 1880 trở đi, ông được công nhận là cha đẻ của trường phái ấn tượng. Vào thập niên đầu thế kỷ 20, ông không chỉ nổi danh ở Pháp, mà còn được công chúng ở nước ngoài ngưỡng mộ, thay đổi hẳn cục diện của ngành hội họa ở phương Tây, và dự báo cho ngành nghệ thuật đương đại. Cuộc triển lãm tại viện bảo tàng Grand Palais lần này là một cách để nhìn lại (retrospective) 60 năm sáng tác của danh họa Claude Monet’’.

Monet : người truy tìm bí mật của ánh sáng

Tại Grand Palais, các tác phẩm của Monet được trưng bày trên một diện tích rộng khoảng 2500 thước vuông. Các bức tranh được sắp đặt một cách tinh tế theo trình tự thời gian và theo chủ đề. Những gian phòng triển lãm ở đây được thiết kế một cách trang nhã, hầu như tối thiểu, ngoài hàng ghế dài hình vòng cung nằm ngay ở giữa phòng, để cho khách tham quan nào muốn dừng chân lại, ngồi ngắm các bức tranh, thì hầu như không có một vật dụng nào khác. Qua cách sắp đặt này, ban tổ chức dường như chỉ muốn đề cao các tác phẩm của Monet, khách bước vào phòng sẽ không nhìn thấy gì khác ngoài các bức kiệt tác của danh họa người Pháp. Qua audioguide, tức là máy đeo tai để nghe hướng dẫn về các tác phẩm, người xem học hỏi được nhiều điều thú vị. Cô Sylvie Patin, một trong những ủy viên đặc trách triển lãm cho biết một trong những chi tiết hấp dẫn đó :

‘‘Nhân một chuyến ghé thăm danh họa Monet tại nhà riêng của ông ở Giverny, ông Paul Cézanne (1839 – 1906) một trong những họa sĩ danh tiếng thuộc trường phái ấn tượng, đã thốt lên một câu nói để đời. Theo Cézanne, không phải chủ đề làm nên một bức họa, mà chính là con mắt của người hoạ sĩ. Về điểm này, Cézanne cho rằng không có nhãn quan nào có thể sánh bằng con mắt của Monet. Chính cũng vì thế mà các nghệ sĩ cùng thời đã mệnh danh Monet là Con Mắt (L’Oeil), ý muốn nói là danh họa này có một nhãn quan vô cùng độc đáo. Cũng cần phải nói là sinh thời, Monet là người đầu tiên vẽ tranh theo từng bộ (série). Chẳng hạn như các bộ tranh với chủ đề Bó rơm (Meules) hay Hoa súng (Nymphéas), mỗi bộ như vậy có trên dưới 20 tác phẩm vẽ cùng một chủ đề, lặp đi lặp lại một mô-típ. Khi đặt các bức tranh này bên cạnh nhau, người ta có cảm tưởng là Monet chỉ vẽ một phong cảnh, khi thì một bó rơm đặt ở ngoài đồng cỏ, lúc thì một hồ nước nở đầy hoa súng, nhưng khác biệt hay chăng là ở trong mức độ của ánh sáng, thay đổi vào lúc ban mai, giữa trưa hay xế chiều. Chỉ với những nét chấm phá, mà Monet gieo vào lòng người xem cái ấn tượng đầy cảm xúc đó. Người ta có cảm tưởng là Monet vẽ các bộ tranh tùy theo sự biến đổi của ánh nắng trong cùng một ngày, hoặc là vẽ cùng một phong cảnh nhưng qua bốn mùa, mỗi mùa có một độ sáng khác nhau. Rất nhiều nghệ sĩ cùng thời rất ngưỡng mộ tư duy sáng tạo của Monet, từ nhà thơ Stéphane Mallarmé cho đến nhà văn Octave Mirbeau. Về phần mình, danh hoạ người Nga Kandinsky (1866 – 1944), cho biết ông đã gợi hứng từ cách pha màu của bậc thầy Monet, để khai phóng trường phái hội họa trừu tượng. Sinh thời Kandinsky đã mệnh danh Monet là nhà thám hiểm khoảnh khắc cảm xúc, người truy tìm bí mật của ánh sáng."

Thủ pháp ấn tượng: ánh sáng thăng hoa

Qua lời hướng dẫn của viện bảo tàng Grand Palais, người xem hiểu được phần nào tư tưởng sáng tạo của Monet. Sinh thời, ông sống trong một môi trường nghệ thuật phong phú. Không phải chỉ có một mình ông, mà nhiều nhân tài khác cũng tự mình đi tìm một lối tiếp cận mới trong nghệ thuật. Theo lời ông Richard Thomson, giáo sư mỹ thuật trường đại học Edinburgh, từ những bước đầu khởi nghiệp cho đến giai đoạn sáng lập trường phái ấn tượng, danh họa Monet đã đồng hành và trao đổi với nhiều nghệ sĩ cùng thời.

‘‘Lúc còn sống, danh họa Monet có khá nhiều bạn hữu trong giới nghệ sĩ, trong đó có thể kể đến các họa sĩ như Bazille, Pisarro, Manet hay Sisley. Sau khi Bazille qua đời, Monet trở thành bạn thân của danh họa Auguste Renoir. Đôi bạn đồng hành với nhau ít nhất là trong hai thập niên liền. Có thể nói là cả hai gương mặt Bazille và Renoir không thuộc trường phái ấn tượng, nhưng họ rất ủng hộ phong trào này, mà Monet là cánh chim đầu đàn. Danh họa Monet cũng là bạn của nhà điêu khắc Rodin, cho dù hai bên không có cùng quan điểm sáng tác, và từng tranh cãi nhau đến mức cắt đứt quan hệ, không còn lui tới thăm viếng nhau trong vòng nhiều năm. Nhưng điều đó cho thấy là luồng sáng tạo nảy sinh từ sự cọ xát, va chạm giữa các nghệ sĩ cùng thời, tuy bất đồng quan điểm, nhưng vẫn biết tôn trọng lẫn nhau. Về ảnh hưởng, có thể nói là Monet thời còn trẻ rất ngưỡng mộ tài năng của họa sĩ Gustave Courbet (1819 -1877), người dẫn đầu trường phái hiện thực, và nhất là danh hoạ người Anh Joseph Turner, mà cách dùng ánh sáng thăng hoa trong các bức tranh màu nước. Vì thế mà giới phê bình cho rằng các bức họa của Turner báo trước cho thủ pháp của trường phái ấn tượng. Tất cả những điều đó còn lưu lại qua thư từ mà sinh thời Monet đã gửi cho người vợ hay cho bạn hữu’’.

Những bức tranh cực kỳ quý hiếm

Cuộc triển lãm về Monet tại Grand Palais dễ hấp dẫn người xem vì nó nhắm cùng lúc vào nhiều đối tượng. Đây cũng là dịp để cho công chúng khám phá những bức tranh quý hiếm. Ngoài các tác phẩm rất quen thuộc của ông như bộ phác họa của bức tranh Déjeuner sur l’herbe (Buổi ăn trưa trên cỏ), phong cảnh biển động ở vùng Haute Normandie qua bức tranh Grosse mer à Etretat, hoặc là cảnh phố Venise và Luân Đôn trong sương mù, còn có hai bộ sưu tập mà lần đầu tiên được tập hợp lại : đó là bộ tranh với chủ đề Meules (Đống rơm) và Cathédrales vẽ về Nhà thờ Đức Bà thành phố Rouen. Theo lời ông Guy Cogeval, giám đốc viện bảo tàng Orsay, êkíp của ông đã mất gần 3 năm trời để có thể tập hợp khoảng 170 tác phẩm của Monet.

‘Bộ sưu tập của Monet mà chúng tôi đã tập hợp gồm khoảng 200 tác phẩm, trong đó có đến 150 bức tranh tranh đến từ khắp nơi trên thế giới, mà các viện bảo tàng như Pouchkine ở Nga, Pinakothek ở Đức, Metropolitan của Mỹ, vân vân…đã đồng ý cho chúng tôi mượn để tổ chức cuộc triển lãm này. Ba tháng trước ngày khai mạc, chúng tôi vẫn còn ráo riết thương lượng với viện bảo tàng Pouchkine để mượn bộ sưu tập Déjeuner sur l’herbe (Buổi ăn trưa trên cỏ). Cũng cần biết rằng, đây là một tác phẩm còn dang dở. Sinh thời, Monet muốn vẽ bức tranh này ở khổ cực lớn : 6 thước chiều ngang, 4 thước rưỡi chiều cao, và trong tranh có đến 12 nhân vật cao to y hệt như người thường. Trước khi thực hiện bức tranh này, Monet đã vẽ các bức phác họa với kích thước nhỏ hơn, để sắp đặt các nhân vật và nghiên cứu cách pha màu. Rốt cuộc, ông đã bỏ ý định này. Cho nên bức tranh Buổi ăn trưa trên cỏ với kích thước ngoại cỡ không được hoàn tất, và chỉ có bộ phác họa cỡ nhỏ mới được trọn vẹn. Theo tôi được biết thì đây là lần đầu tiên toàn bộ phác họa này được trưng bày tại Pháp, và ngoại trừ những người đã từng viếng thăm viện bảo tàng Pouchkine ở Nga, đa số khách xem triển lãm đều chưa bao giờ chứng kiến tận mắt tác phẩm này. Ngoài ra có một tác phẩm cực kỳ quý hiếm là bức tranh Terrasse à Sainte Adresse (1867) của viện bảo tàng Metropolitan ở New York. Tác phẩm này nằm trong danh sách 25 bức tranh cấm được lưu hành, di chuyển, vì lý do bảo tồn tác phẩm. Chúng tôi đã mất gần 6 tháng để thuyết phục viện bảo tàng Metropolitan cho chúng tôi mượn bức tranh này. Đổi lại, chúng tôi đã hứa là sẽ đền bù bằng cách sẽ cho Metropolitan mượn các tác phẩm quý nhất của viện bảo tàng Orsay, trong tương lai. Với các tác phẩm hiếm thấy như vậy, tôi hy vọng rằng cuộc triển lãm tại Grand Palais sẽ được công chúng đón nhận nồng nhiệt’’.

Danh họa Claude Monet, khi qua đời đã để lại khoảng hai ngàn tác phẩm. Nhiều bức tranh của ông đã được nhiều viện bảo tàng mua lại, vì thế cho nên bộ sưu tập của Monet nằm rải rác ở khắp nơi. Đâu đó, nỗ lực tập hợp 170 bức tranh về trưng bày tại Grand Palais đã là một kỳ công đáng ghi nhận. Tuy nhiên, người đến xem triển lãm không khỏi ngạc nhiên vì cuộc triển lãm lần này thiếu vắng bức tranh Impression, soleil levant (Ấn tượng khi mặt trời mọc).

Được vẽ vào năm 1872, tác phẩm này được xem là một cột mốc lịch sử của ngành hội họa, đặt tên cho trường phái ấn tượng của Monet. Một cách tương tự, bộ sưu tập Nymphéas (Hoa súng) cũng không được trọn vẹn. Các viện bảo tàng như Marmottan hay Jeu de Paume của Pháp không cho mượn vì đây là những tác phẩm chủ chốt, thu hút được khán giả chỉ nhờ vào một bức tranh duy nhất. Điều này có lẽ sẽ không làm chùn bước khách đến xem triển lãm. Trong vòng bốn tháng, ban tổ chức tại Grand Palais dự trù sẽ lôi cuốn 700 ngàn lượt người xem.

Để xem các bức tranh của danh họa Monet tại Grand Palais, mời quý vị truy cập địa chỉ http://www.monet2010.com/fr

Read more ...

Carnaval de Paris

Read more ...

Bàn thắng mà giờ xem lại vẫn còn sướng

Read more ...

Cẩn thận với con số phần trăm!

(minh họa: Khều)
LTS: Tiếp nối đề tài thống kê và báo chí, TBKTSG giới thiệu bài viết của GS. Nguyễn Văn Tuấn (Viện Nghiên cứu y khoa Garvan, Úc) về một sai lầm thông thường trong cách sử dụng và hiểu con số phần trăm, khá phổ biến trong truyền thông.


Từ thấp lên 100
Trong bài viết Những con số giáo dục dưới thời Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, PGS.TS. Trần Quang Quý có ý chứng minh rằng kỷ cương giáo dục dưới thời Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân đã cải tiến tốt hơn bằng cách trình bày con số giám thị phòng thi bị đình chỉ công tác năm 2007 là 32 người, đến năm 2010 con số này là 1, và ông kết luận “giảm gần 97% so với năm 2007”.
Một bài báo trên Sài Gòn Tiếp Thị cho biết trong số 12 bệnh nhân được đặt tinh hoàn nhân tạo (testicular implant), “[…] Tỷ lệ hài lòng là 91,7%”, mà không cho biết bao nhiêu bệnh nhân hài lòng. Một bạn đọc viết thư cho người viết bài này cho rằng bạn thấy ngờ ngợ về con số này, nhưng không lý giải được tại sao mình có cảm giác “ngờ ngợ”! Xin nói rằng ở đây bạn đọc chỉ lấn cấn về con số, chứ không chất vấn về phẫu thuật vốn có ích này. Thật ra, bạn đọc đó lấn cấn về con số cũng có lý do, bởi vì con số phần trăm ở đây đã được sử dụng không mấy hợp lý.

Cả hai cách trình bày trên đều không hợp lý về mặt logic. Trong hai trường hợp, người viết đã phạm phải một lỗi lầm phổ biến trong thống kê: khái quát hóa ra ngoài phạm vi số liệu cho phép (tiếng Anh là over-generalization).
Khi nói “97,1% hài lòng”, chúng ta hiểu rằng trong số 100 bệnh nhân được đặt tinh hoàn nhân tạo, có 97 người hài lòng với kết quả của phẫu thuật. Hay, trong trường hợp kỷ cương giáo dục, con số “giảm 97%” hàm ý nói rằng cứ 100 người bị đình chỉ công tác năm 2007, thì năm 2010 chỉ còn 3 người bị đình chỉ công tác. Vấn đề ở đây là quần thể chỉ có 12 bệnh nhân (hay 32 giám thị), nhưng người viết “chuyển hóa” cho quần thể đó thành 100 đối tượng!
Trong thực tế, chúng ta không biết nếu có 100 bệnh nhân đã qua phẫu thuật, kết quả có thật sự là 97 người hài lòng. Chúng ta không/chưa biết. Do đó, nói “97,1% hài lòng” là nói đến một sự kiện chưa xảy ra, và vì thế, phát biểu trên được xem là … một ngụy biện thống kê!
Nhưng tôi cho rằng khả năng rất cao là sai lầm đó không phải do người viết cố ý, mà rất có thể chỉ do tính toán theo quán tính. Giới phóng viên (và ngay cả các nhà nghiên cứu xã hội kinh tế học) hay có thói quen mô tả mối liên hệ giữa hai đại lượng bằng con số phần trăm, mà không để ý đến giả định đằng sau của con số này. Chính vì không chú ý đến giả định và ý nghĩa của con số phần trăm, nên trong thực tế đã xảy ra nhiều chuyện dở khóc dở cười trong thế giới truyền thông.

Từ cao xuống 100
Con số phần trăm có “chức năng” chính là so sánh và mô tả tính quy mô của một vấn đề. Một con số riêng lẻ chẳng có ý nghĩa gì, nhưng khi con số đó được so sánh với một con số khác thì ý nghĩa có khi rõ ràng hơn và dễ cảm nhận hơn.
Chẳng hạn như nếu nói “có 188 người mắc bệnh tiểu đường” thì có lẽ chẳng ai biết con số này có ý nghĩa gì, nhưng nếu 188 người đó được phát hiện trong một quần thể 1.609 người thì nó có thể cho chúng ta một cảm nhận về qui mô của vấn đề. Nhưng vì hai con số 188 và 1.609 khó cảm nhận và khó hình dung, cho nên các nhà nghiên cứu thường đơn giản hóa bằng cách tính số bệnh nhân tiểu đường trên quần thể tượng trưng 100 người. Kết quả 188 ca bệnh tiểu đường trong số 1609 cũng có thể phát biểu rằng tỷ lệ bệnh tiểu đường là 13%. Nói cách khác, cứ 100 phụ nữ trên 30 tuổi, có 13 người mắc bệnh tiểu đường. Con số 13% là đáng chú ý, vì đó là một quy mô lớn có ảnh hưởng đến sức khỏe và kinh tế của một quần thể.
Trong ví dụ trên, người ta giảm quần thể 1.609 xuống còn 100, và tử số 188 người cũng giảm theo cùng tỷ lệ. Lý do giảm mẫu số xuống một quần thể tượng trưng 100 là để đơn giản hóa con số, làm cho vấn đề dễ cảm nhận hơn, gần gũi hơn với người đọc. Thật vậy, một nghịch lý chung của con người là chúng ta tuy rất ấn tượng với những con số lớn, nhưng lại cảm nhận dễ dàng hơn với những con số nhỏ.
Con số phần trăm còn hàm ý một giả định về mối liên hệ giữa mẫu và quần thể. Câu phát biểu “có 13% người mắc bệnh tiểu đường” còn hàm ý nói rằng trong quần thể (1.609 người), nếu chọn ngẫu nhiên 100 người thì số người mắc bệnh tiểu đường sẽ dao động chung quanh con số 13 người.
Hai trường hợp trên cho chúng ta thấy một quy ước chung khi sử dụng con số phần trăm: khi mẫu số chỉ vài chục thì cách tốt nhất là không sử dụng phần trăm, nhưng khi mẫu số gần 100 hay cao hơn 100, có thể sử dụng phần trăm. Trong trường hợp phẫu thuật đặt tinh hoàn, có lẽ cách tốt nhất là phát biểu “11 trong số 12 bệnh nhân hài lòng với kết quả của phẫu thuật”, chứ không cần nói đến con số 97%, và càng không cần nói đến con số 97,1% (chính xác đến 1 số lẻ!)

Nghịch lý tăng trưởng
Quay lại bài viết Những con số giáo dục dưới thời Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân của Thứ trưởng Trần Quang Quý, bài viết còn cho biết tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông (THPT) tăng. Ông biết tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT năm 2009 là 84%, và tiên đoán rằng năm 2010 sẽ là “khoảng 90%”. Nhưng cách diễn giải này rất nguy hiểm, vì con số phần trăm trong một quần thể có thể cho chúng ta một bức tranh rất sai lệch. Để minh họa rằng khả năng sai lệch trong kết luận dựa vào con số tỷ lệ tốt nghiệp toàn quốc, tôi mời các bạn xem một minh họa đơn giản sau đây:
Trường
Năm 2009
Năm 2010
-
Số học sinh
Số tốt nghiệp
Tỷ lệ tốt nghiệp (%)
Số học sinh
Số tốt nghiệp
Tỷ lệ tốt nghiệp (%)
A
497
435
88
694
577
83
B
221
209
95
4.840
4.425
91
C
212
192
91
383
318
83
D
503
401
80
320
191
60
E
1841
1536
83
201
140
70
Tổng số
3.274
2.773
85
6.438
5.651
88
Trong bảng số liệu (tôi mô phỏng) trên, chúng ta có năm trường (A, B, C, D, và E). Năm 2009, tổng số học sinh dự thi là 3.274 và 2.773 tốt nghiệp (tức tỷ lệ tốt nghiệp là 85%). Năm 2010, số học sinh thi tăng lên 6.438 và tỷ lệ tốt nghiệp là 88%. Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng tỷ lệ tốt nghiệp đã tăng trong thời gian 2010 và 2009? Câu trả lời đơn giản là: không.
Nếu nhìn vào tỷ lệ tốt nghiệp của từng trường, chúng ta thấy tỷ lệ tốt nghiệp năm 2010 đều thấp hơn năm 2009. Chẳng hạn như trường A, tỷ lệ tốt nghiệp năm 2007 là 88% và giảm xuống còn 83% trong năm 2009. Xu hướng giảm đều được ghi nhận cho tất cả năm trường. Do đó, kết luận đúng là tỷ lệ tốt nghiệp đã giảm, chứ không tăng.
Hiện tượng phần trăm tăng trưởng của một quần thể đi ngược lại phần trăm của từng cá thể còn được đề cập đến như là một nghịch lý Simpson. Nghịch lý này do nhà toán học Edward Simpson phát hiện vào năm 1951 (dù trong thực tế người phát hiện ra hiện tượng này là hai nhà thống kê học Karl Pearson và Udny Yule vào đầu thế kỷ 20). Theo đó, những thay đổi về cấu trúc số liệu có thể dẫn đến kết luận sai cho một quần thể. Minh họa trên cho thấy nếu không có số liệu cho từng trường cho thấy xu hướng biến chuyển ra sao trong thời gian 2009 và 2010, thì khó mà kết luận gì về tình hình chung liên quan đến tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông.
Cựu thủ tướng Anh Benjamin Disraeli từng nói “There are three kinds of lies: lies, damned lies, and statistics” (tạm dịch: có ba loại nói láo: láo, láo đáng nguyền rủa, và thống kê). Câu nói này không có ý nói con số thống kê là láo, mà muốn nói rằng người ta sử dụng con số thống kê để nói láo, và nói láo bằng thống kê còn có tội nặng hơn là láo đáng nguyền rủa. Con số phần trăm là một chỉ số được sử dụng để thuyết phục công chúng về nhiều vấn đề, nhưng nếu không cẩn thận, rất dễ sa đà vào sai lầm mà Disraeli đã cảnh báo từ 100 năm về trước.
Nguyễn Văn Tuấn
***** ***** *****
Một ví dụ về phần trăm có thể dẫn đến kết quả sai:
Business Snapshot 13.1: Mutual fund Returns Can Be Misleading
The difference between μ and μ - σ² /2 is closely related to an issue in the reporting of mutual fund returns. Suppose that the following is a sequence of returns per annum reported by a mutual fund manager over the last five years (measured using annual compounding):



15%, 20%, 30%, -20%, 25%









The arithmetic mean of the returns, calculated by taking the sum of the returns and dividing by 5, is 14%. However, an investor would actually earn less than 14% per annum by leaving the money invested in the fund for 5 years. The dollar value of $100 at the end of the 5 years would be




100 x 1.15 x 1.20 x 1.30 x 0.80 x 1.25 = $ 179.40


By contrast, a 14% return with annual compounding would give

100 x
1.145



= $192.54







The return that gives $179.40 at the end of five years is 12.4%. This is because




100 x (
1.124)5



= 179.40







What average return should the fund manager report? It is tempting for the manager to make a statement such as: " The average of the returns per year that we have realized in the past 5 years is 14%." Although true, this is misleading. It is much less misleading to say: "The average return realized by someone who invested with us for the last 5 years is 12.4% per year." In some jurisdictions, regulations require fund managers to report returns the second way.








This phenomenon is an example of a result that is well known by mathematicians. The geometric mean of a set of numbers (not all the same) is always less than the arithmetic mean. In our example, the return multipliers each year are 1.15, 1.20, 1.30, 0.80, and 1.25. The arithmetic mean of these numbers is 1.140, but the geometric mean is only 1.124.

Hull, J. C.(2006): Option, Futures and other Derivates, 6th Edition

Read more ...

Website counter