Hiển thị các bài đăng có nhãn Điện ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Điện ảnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Limelight: 60 năm bộ phim Ánh đèn màu của Chaplin


Charlie Chaplin lúc mới đến Mỹ lập nghiệp

Mới đó mà đã 60 năm ngày ra đời của tác phẩm Limelight (Ánh đèn màu), một trong những bộ phim hay nhất của Charlie Chaplin. Sinh trong một gia đình nghèo người Anh, cha mẹ chuyên đi hát rong, có lẽ không bao giờ vua hề Charlot lại quên thân phận nguyên quán, cái nguồn gốc xuất xứ của một kẻ cơ cực bần hàn.  



Bằng chứng là vào năm 1954, lúc ông bắt đầu cuộc sống tha hương bên Thụy Sĩ, Charlie Chaplin đã ký tặng một ngân phiếu trị giá hai triệu quan Pháp (một khoản tiền lớn so với thời bấy giờ) cho hội từ thiện Emmaüs, sau khi tu sĩ Pierre ngỏ lời thống thiết kêu gọi mọi người giúp đỡ thành phần vô gia cư, giữa cơn lạnh mùa đông khắc nghiệt. 

Khi được hỏi vì sao ông lại hào phóng như vậy, Charlie Chaplin thành thật trả lời: Đây không phải là tiền tôi cho, mà là món tiền tôi trả lại, để đền đáp tất cả những gì mà cuộc đời đã ban tặng cho tôi, một thằng ăn mày trên màn ảnh lớn, không thể nào cực khổ bằng những kẻ ăn xin có thật ở ngoài đời. Tình người và lòng nhân hậu thường bàng bạc xuyên suốt trong tác phẩm của Charlie Chaplin, tiêu biểu nhất là hai cuộn phim The Kid (Thằng Nhóc) và Limelight (Ánh đèn màu, có nhiều người dịch thành Ánh đèn Sân khấu). 

Qua đời tại Thụy Sĩ năm 1977, năm 2012 là đúng 35 năm ngày giỗ của ông, Charlie Chaplin đã để lại trên dưới 90 tác phẩm, trong đó có 7 bộ phim còn dang dở. Không phải ngẫu nhiên mà Viện Phim ảnh Hoa Kỳ (American Film Institute) từng xếp vua hề Charlot vào danh sách 10 huyền thoại điện ảnh sáng chói nhất mọi thời đại. Nhưng bên cạnh việc đạo diễn và đóng phim, Charlie Chaplin còn có cái tài soạn nhạc, phần lớn là do hoàn cảnh buộc ông phải trau dồi tay nghề nhiều hơn là một tài nghệ bẩm sinh thiên phú. 

Thành danh ban đầu nhờ các bộ phim câm, Charlie Chaplin ngoài công việc chỉ đạo và diễn xuất còn phải sáng tác nhạc nền minh họa cho hầu hết những hình ảnh được chiếu trên màn ảnh lớn. Sau khi các tác phẩm điện ảnh gặt hái thành công, thì lúc đó các giai điệu chủ đề của các bộ phim mới được đặt thêm ca từ. Đó là trường hợp tiêu biểu của Weeping Willows, Mandolin Serenade và Now That It's Ended trong bộ phim A King In New York, Falling Star (phim The Great Dictator), You Are The Song (phim The Gentleman Tramp), Beautiful, Wonderful Eyes (phim City Lights), Sing A Song (phim Gold Rush),... 

 Smile - Nat King Cole - Ca khúc chủ đề của MODERN TIMES
Trên danh sách này, có hai bản nhạc rất quen thuộc và từng được chuyển dịch nhiều lần nhất vẫn là Smile, nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Modern Times, từng ăn khách qua tiếng hát của Nat King Cole và ca khúc Eternally của tác phẩm điện ảnh Limelight. Còn bài This is my song (trích từ phim A Countess from Hong Kong) giúp cho Petula Clarck chiếm hạng nhất thị trường Anh, hạng ba thị trường Hoa Kỳ. 

Limelight trong tiếng Anh, Les Feux de la Rampe trong tiếng Pháp, Candelijas trong tiếng Tây Ban Nha, tác phẩm này là bộ phim cuối cùng mà Charlie Chaplin đã thực hiện tại Hoa Kỳ, trước khi ông bắt đầu cuộc sống lưu vong tại Thụy Sĩ. Về nội dung, Limelight kể lại câu chuyện của một nghệ sĩ hài (Calvero), đã đến tuổi về già, đáng lẽ ra ông phải giã từ sàn diễn nhưng rốt cuộc vẫn còn lưu luyến ánh đèn sân khấu. 

Calvero làm quen với một diễn viên múa ballet (Theresa Ambrouse, gọi thân mật là Terry), một thiếu nữ còn non tuổi đời, chưa vững tay nghề. Sự dìu dắt, nâng đỡ của người nghệ sĩ già cũng như tấm lòng nhân hậu của ông sẽ giúp cho tài năng của cô gái trẻ có cơ hội tỏa sáng. Vào đoạn cuối bộ phim, ngọn lửa thiêng do Calvero truyền nối, giúp cho Terry, tựa như thiên nga, chấp cánh bay cao. Sự thành công rực rỡ trên sân khấu của cô gái ở độ tuổi xuân xanh, cũng là lúc mà trong hậu trường, người nghệ sĩ bạc phơ tóc cước trút bỏ hơi thở cuối cùng. 


Chính ở trong cái đoạn cuối này, mà khúc nhạc chủ đề bộ phim lại trỗi lên, mang ý nghĩa biểu tượng của sự chuyển giao tiếp nối. Charlie Chaplin đặt tựa ban đầu cho khúc nhạc này là Terry’s Theme (Giai điệu của Terry). Đến khi hai tác giả người Anh Geoff Parsons và John Turner đặt thêm ca từ, thì lúc đó bản nhạc mới có tựa đề là Eternally (Muôn thuở). Với thời gian tầm vóc của bộ phim trở nên lớn đến nỗi nhiều người gọi đó là bài Limelight, khi mà bộ phim và ca khúc chủ đề không còn được phân biệt. 

Một khi bộ phim thành công, ca khúc chủ đề đã được chuyển dịch sang nhiều thứ tiếng. Riêng trong tiếng việt bài này có ít nhất là 4 lời khác nhau. Người đầu tiên đặt lời Việt cho bài này không phải là nhạc sĩ Phạm Duy mà lại là tác giả Nguyễn Xuân Mỹ dưới tựa Ánh đèn màu. Sau đó đến phiên hai tác giả Nguyễn Huy Hiển và Anh Hoa (Tình Tôi) cũng có cảm hứng đặt lời Việt cho bản nhac này. Về phần mình, tác giả Phạm Duy đặt hai lời khác nhau cho cùng một giai điệu: Ánh đèn sân khấu và Đời Ca nhi. 

Đằng sau tác phẩm Limelight, có khá nhiều giai thoại ly kỳ, tình tiết hấp dẫn. Khi bắt tay thực hiện cuộn phim, Charlie Chaplin lúc đó đã ngoài 60 tuổi, linh tính là có nhiều chuyện không may sắp đến trong đời ông. Vào cái thời của chủ nghĩa chống cộng McCarthy tại Hoa Kỳ, Charlie Chaplin do có khuynh hướng thiên tả bị nhiều thành phần trong dư luận ghét bỏ, bị chụp mũ là có những hoạt động đi ngược lại với quyền lợi của nước Mỹ. 

Khi được biết là Charlie Chaplin lên đường sang Anh Quốc để giới thiệu cuộn phim Limelight, giám đốc cơ quan FBI J. Edgar Hoover mới dùng tầm ảnh hưởng của mình, trực tiếp gọi điện cho Sở di trú để không cấp cho Charlie Chaplin quyền nhập cảnh trở lại Hoa Kỳ. Nhiếp ảnh gia nổi tiếng Richard Avedon là người chụp bức ảnh chân dung cuối cùng của Charlie Chaplin, có kể lại lần gặp mặt này trong quyển hồi ký của mình. 

Một lần đi nhưng không biết bao giờ mới trở lại: kể từ năm 1953 trở đi, Charlie Chaplin cùng với gia đình chọn Thụy Sĩ làm nơi định cư cuối cùng. Ông sẽ tiếp tục quay phim: A King in New York vào năm 1957, và tác phẩm cuối cùng là A Countess from Hong Kong với cặp diễn viên Sophia Loren & Marlon Brandon trong vai chính. Nhưng hai tác phẩm này đều cho thấy là thời của Charlie Chaplin đã qua. 

Chính cũng vì thế mà bộ phim Limelight không được trình chiếu rộng rãi vào năm 1952. Mãi đến 20 năm sau, ông mới đặt chân trở lại trên đất Mỹ nhưng chỉ để tham dự lễ trao giải Oscar. Ông nhận được một giải thưởng dành cho nhạc phim Limelight và đó cũng là giải Oscar duy nhất có đề cử và bình chọn. Hai giải Oscar khác chủ yếu là giải danh dự nhằm khen tặng thành tựu sự nghiệp của Charlie Chaplin. Đó là cái bối cảnh. 

Còn về mặt nội dung, thì Limelight khiến cho nhiều người xem bồi hồi xúc động vì nó giống như một bản di chúc, một bức tâm thư của người nghệ sĩ nhìn lại những bước thăng trầm trong sự nghiệp và cuộc đời. Cho dù trong quyển hồi ký My Life in Pictures (Đời tôi qua phim ảnh, xuất bản năm 1974), Charlie Chaplin cho biết là ý tưởng viết kịch bản phim Limelight dựa vào cuộc đời của nghệ sĩ Frank Tierney, nhưng tất cả các nhà phê bình đều cho rằng Charlie Chaplin đã đưa rất nhiều chi tiết trong cuộc đời mình vào trong cuộn phim. 

Theo đó, không phải ngẫu nhiên mà câu chuyện của Limelight diễn ra vào những năm 1913-1914 ở Luân Đôn. Đó là thời điểm mà Charlie Chaplin rời nước Anh sang Mỹ khởi đầu sự nghiệp điện ảnh với hãng phim Keystone. Limelight cũng là lúc Charlie Chaplin nói câu giã từ với nhân vật Charlot, vai nghệ sĩ hài Calvero trong phim, có nhiều nét giống với Charlot từ tướng mạo, y phục, cho đến trang điểm. 


Bộ phim Limelight (Ánh đèn Sân khấu) cũng là một cách để cho nhà đạo diễn khép lại quyển sách của một thời đã qua, vì trong phim không chỉ có một mà lại có đến hai vua hề: Charlie Chaplin và Buster Keaton đều nổi danh trong thời kỳ hoàng kim của phim câm. Charlie Chaplin trong vai Charlot lúc nào cũng lạc quan yêu đời, còn Buster Keaton thì không bao giờ nở một nụ cười trên màn ảnh. 

Báo chí thường nhắc đến sự cạnh tranh đối đầu giữa hai vua hề nổi danh hầu như cùng một thời, nhưng lại chóng quên rằng họ mến phục lẫn nhau. Tác phẩm Limelight ban đầu không có vai dành cho Buster Keaton, nhưng Charlie Chaplin đã viết hẳn một vai dành riêng cho đồng nghiệp, bởi vì vào đầu những năm 1950, diễn viên Buster Keaton bị sạt nghiệp, gia đình không còn, tài sản tiêu tan. 

Nét đột phá của tác phẩm Limelight là trong một bộ phim có đối thoại, đạo diễn Charlie Chaplin đã khôi phục thời đại phim câm khi mà hai vua hề song diễn. Kẻ tung người hứng, một bên chơi vĩ cầm, bên kia đánh dương cầm, Cảnh quay không hề được viết trong kịch bản mà chỉ do hai vua hề biến tấu qua động tác, cử chỉ thành một màn phim để đời. 

Ở trong những giây phút cuối cùng của bộ phim Limelight, Charlie Chaplin dựng cái chết của chính mình trên màn ảnh lớn, y hệt như khát vọng của biết bao nghệ sĩ, với cuộc đời dù năm chìm bảy nổi, nhưng đam mê ánh đèn màu đã ăn sâu vào thịt da xương tủy, tâm huyết nghiệp diễn một mạch tuôn chảy đến tận cùng huyết quản. 

Read more ...

Phim Hereafter: gọi hồn kẻ chết để an ủi người sống

Tuấn Thảo
 Bộ phim "Hereafter" có tựa tiếng Pháp là "Au Delà" (Bên kia thế giới) DR
Đạo diễn Clint Eastwood thuộc vào hàng kỳ cựu của làng điện ảnh quốc tế. Trong số hơn 30 bộ phim mà ông đã quay, tác phẩm sau không hề giống tác phẩm trước. Lần này với bộ phim Hereafter (Bên kia thế giới), ông dẫn dắt người xem vào cõi huyền bí tâm linh, gọi hồn người đã khuất để giải tỏa nỗi dằn vặt ray rứt của kẻ còn sống.

Nội dung bộ phim Hereafter không đơn thuần kể một câu chuyện mà lại kết nối đến ba câu chuyện khác nhau. Về mặt cấu trúc, có thể gọi đây là một tác phẩm hợp xướng, cộng hưởng nhiều nhân vật và tình huống khác biệt. Trong thể loại này, các bậc thầy vẫn là Robert Altman và Woody Allen. Còn dưới ống kính của đạo diễn Clint Eastwood, bộ phim Bên kia thế giới đan xen và lồng ghép ba mảnh đời ở ba phương trời cách biệt (Pháp, Mỹ và Anh) để rồi ở đoạn cuối, hội tụ về cùng một nơi.
Nhân vật đầu tiên mở đầu bộ phim là cô Marie Lelay (do Cécile de France thủ vai), một phóng viên nổi tiếng của đài truyền hình Pháp. Cùng với người bạn trai, cô đi du lịch ở Thái Lan, vào thời điểm xẩy ra cơn sóng thần. Từ căn phòng khách sạn ven biển, người ta thấy mực nước đột ngột rút lui, để rồi dâng cao lên cả chục thước, đổ ập vào đất liền. Trận sóng thần mãnh liệt dữ dội bứng gốc các cột đèn điện, quét sạch phiên chợ làng, cuốn trôi xe cộ nhà cửa. Trong cảnh hoảng loạn, Marie tháo chạy không kịp nên bị nhấn chìm dưới nước. Cô tắt thở chết đuối trong vài phút, trước mắt bỗng hiện ra nhiều bóng người chập chờn trong đường hầm ánh sáng.

Trạng thái cận tử: người chưa tới số
Tuy được người khác làm hô hấp nhân tạo nhưng Marie vẫn không sống dậy. Đến khi toán cấp cứu tưởng chừng cô đã chết, quay lưng bỏ đi cứu giúp người khác, thì Marie mới ọc nước bừng tĩnh. Trời kêu ai nấy dạ. Nói theo người Việt, thì Marie đáng lẽ ra phải chết nhưng rốt cuộc vẫn chưa tới số. Còn nói theo người Âu Mỹ, thì cô đã trải qua trạng thái cận tử (Near Death Experience), một con người phàm trần về từ cõi chết.

Tuy bình an vô sự và được trở về Paris, nhưng tâm tính của Marie bỗng nhiên khác hẳn. Trong lúc làm việc, cô bỗng nhiên hoang mang thất thần như thể hồn vẫn chưa về xác. Bạn trai của cô khuyên Marie nên nghỉ ngơi dưỡng sức, tận dụng thời gian rảnh rỗi để viết sách, vì cho dù cơ thể lành lặn nhưng tâm hồn có thể bị chấn thương. Tưởng lầm rằng cô được nghỉ vài tuần để tĩnh dưỡng, nào ngờ Marie lại bị cho thôi việc nghỉ luôn. Nhưng kể từ khi cô trở về từ thế giới bên kia, sự nghiệp và danh vọng không còn là điều quan trọng.



Nhân vật chính thứ hai trong phim là George Lonegan (do Matt Damon đóng vai), một công nhân bốc hàng làm việc tại bến cảng San Francisco, Hoa Kỳ. Thời niên thiếu, anh bị chứng viêm não nên buộc phải giải phẫu. Căn bệnh nan y khó giải, nên anh phải nằm trên giường mổ hàng tiếng đồng hồ. Sau nhiều ngày hôn mê bất tỉnh, George dần dần hồi phục sức khỏe. Tưởng rằng mọi chuyện đã bình thường, đâu ngờ bệnh viêm não lại biến chứng. Cậu thanh niên bị mất ngủ và nhức đầu kinh niên.
 Mỗi khi phải thức trắng, George chỉ tìm thấy sự an ủi khi nằm yên trên giường, nghe đọc sách qua audio book, chủ yếu là các tác phẩm của nhà văn Charles Dickens. Nhưng trong số các biến chứng, lạ lùng hơn cả là anh có giác quan ngoại cảm: George không nhìn thấu quá khứ hay tương lai, mà lại có thể giao tiếp trò chuyện với linh hồn của người đã khuất. Cứ mỗi lần anh đụng chạm hay nắm tay người khác, là thân nhân quá cố của họ bỗng hiện về, nói cho anh nghe tất cả những điều bí ẩn, che giấu hay chôn kín ở trong lòng, mà chỉ có những người trong cuộc mới biết được.

Nói chuyện với người chết: vận may hay tai họa? Đối với người thường, cái giác quan thứ sáu này có thể là một vận may, nhưng đối với George, thì nó chẳng khác gì một tai họa. Trong đời, anh đã nhiều lần giúp đỡ người còn sống nhắn nhủ tâm tình với người đã khuất. Nhưng cũng như anh nói: sống mà chỉ để nói chuyện người chết thì đâu phải là một cuộc sống thực thụ. Có lẽ cũng vì thế mà George chọn nghề bốc hàng thay vì kiếm tiền nhờ thuật gọi hồn. Cho dù được người anh trai vỗ về dỗ ngọt, nhưng George nhất quyết không muốn khai thác khả năng của mình để trục lợi. Đoạn tuyệt với quá khứ, George khăn gói lên đường rời nước Mỹ sang Anh.

Chính tại Anh Quốc, mà người xem mới khám phá câu chuyện thứ ba. Nhân vật chính là Marcus, một cậu bé 10 tuổi (do George McLaren đóng vai). Marcus sống cùng với người anh sinh đôi tên là Jason ở một khu phố nghèo. Cả hai đứa bé chẳng những mồ côi cha mà còn bị người mẹ bỏ bê, vì chứng nghiện rượu và ma túy. Tuy giống nhau như đúc, nhưng hai đứa bé lại có tánh tình rất khác biệt: thằng em càng nhút nhát rụt rè bao nhiêu, thì thằng anh càng lanh lợi tháo vát bấy nhiêu.

 
Một ngày kia, nhân viên trợ tá xã hội đến nhà gỏ cửa đòi bắt hai đứa nhỏ, đem giao cho người khác nuôi. Thằng anh mới lập mưu bày kế giúp mẹ và em trai thoát khỏi tình huống rủi ro. Chạnh lòng ân hận, bà mẹ thương con mới quyết định mua thuốc cai nghiện. Bà đưa tiền cho Marcus, bảo thằng em chạy ra phố mua thuốc tây về cho mẹ, nhưng rốt cuộc thằng anh lại đòi đi. Đến khi rời khỏi nhà, Jason bị một lũ du côn chặn đường ăn hiếp, thằng anh hoảng sợ băng qua đường tháo chạy, rủi thay lại bị xe cán nên chết ngay tại chỗ.

Kẻ khuất hộ mạng người sống
Sau tai nạn, người mẹ được đưa vào trung tâm cai nghiện. Marcus thì tạm thời được một gia đình khác nhận về nuôi. Thằng bé trở nên lầm lì ít nói, mỗi đêm trước khi đi ngủ lại nói chuyện một mình như thể anh trai vẫn còn sống và nằm trên giường bên cạnh. Sau đám tang, Marcus giữ lại làm kỷ vật cái nón lưỡi trai của Jason. Thằng bé bỏ nhà đi lang thang không phải để chơi bời phá phách mà lại đi tìm thầy bói để giúp nó liên lạc với người anh đã chết. Có một lần, nó vào trạm xe điện ngầm. Giờ cao điểm đông người nên hành khách chen lấn xô đẩy nhau, hất xuống đất cái nón lưỡi trai của thằng nhỏ. Vì đi tìm cái nón mà Marcus trễ mất một chuyến xe, nhưng cũng vì thế mà thoát chết trong đường tơ kẻ tóc vì chuyến xe thình lình phát nổ do bị cài bom, làm nhiều hành khách thiệt mạng.

Phải chăng do duyên kiếp tiền định mà cả ba nhân vật mà thoạt nhìn chẳng có liên hệ gì với nhau lại gặp mặt nhân kỳ hội chợ sách tại Luân Đôn. Trong lúc ký tặng quyển tự truyện, Marie chạm vào bàn tay của George nên anh biết ngay rằng cô đã từng chết đi rồi sống lại. Thằng bé Marcus lang thang giữa các gian hàng sách chợt nhận ra George là người có tài nói chuyện với người chết. Bởi vì nó đã từng thấy chân dung của anh trên mạng internet. Dù bị George xua đuổi cách mấy, nhưng thằng nhỏ vẫn nhất quyết chạy theo anh. Sau khi thấy Marcus đứng chờ trước khách sạn mấy tiếng đồng hồ, George mới xiêu lòng giúp đỡ vì tội nghiệp cho thằng bé.

Lúc đó, Marcus mới biết rằng người anh sinh đôi đã khuất vẫn che chở phù hộ cho mình. Nhờ vong linh của người quá cố, mà chiếc nón lưỡi trai bị rớt xuống đất, và như vậy Marcus thoát chết trong vụ khủng bố xe điện ngầm. Đó là lần duy nhất nhưng cũng là lần cuối cùng hai anh em sinh đôi trò chuyện với nhau. Để tỏ lòng tri ân, thằng bé Marcus mới mách với George là cô Marie đang ở chỗ nào. Dù chỉ gặp mặt có một lần nhưng anh linh cảm là giữa hai người có một sợi dây vô hình nào đó gắn liền hai định mệnh. Trong đoạn cuối, dù khán giả không phải là tiên tri hay thầy bói nhưng họ cũng có thể đoán trước bộ phim kết thúc có hậu đến chừng nào.

Kịch bản: thắt nút chậm, tháo gỡ nhanh
Bộ phim Hereafter là tác phẩm thứ 31 của đạo diễn Clint Eastwood. Có thể xem đây là dấu gạch nối giữa cuộn phim Sixth Sense (Giác quan thứ 6) của Night Shyamalan và Tháp Babel của đạo diễn Alejandro González Inárritu. Một bộ phim huyền bí tâm linh nhưng không ma quái kinh dị, một câu chuyện đa tầng nhiều lớp nhưng vẫn không trái ngược chồng chéo. Về mặt diễn xuất, hầu hết các tài tử Hollywood nên học hỏi cách đóng phim của Michael Caine trong bộ phim mang tựa đề Harry Brown. Còn về thủ pháp điện ảnh, các nhà đạo diễn trẻ nên học hỏi từ đạo diễn Clint Eastwood, vì cách quay phim của ông xứng đáng được xếp vào hạng thượng thừa. Hollywood đã từng quay nhiều bộ phim nói về thiên tai và ngày tận thế, nhưng không có phim nào sánh bằng cái cảnh sóng thần mở đầu bộ phim Hereafter.

Chỉ trong vòng 8 phút, nhưng Clint Eastwood xen kẻ lối quay toàn cảnh, quay nửa thân rồi cận ảnh và nhất là thủ pháp "ống kính chủ quan", tức là quay từ góc nhìn của người trong cuộc. Có lẽ cũng vì thế mà khán giả thật sự có cảm tưởng ngụp chìm trong trận sóng thần. Trong ngôn ngữ điện ảnh, đạo diễn Clint Eastwood dùng hàm ý và tỉnh lược để rút ngắn những đoạn không cần thiết, nhưng bên cạnh đó ông dùng những chi tiết rất phụ để làm giàu câu chuyện, không có chiếc nón lưỡi trai thì làm sao mà Marcus thoát chết, không mê truyện của Charles Dickens, thì nhân vật George sẽ không đời nào đi Luân Đôn.

Tuy nhiên, trên ba phần, bộ phim Hereafter chỉ đạt có hai. Đoạn yếu nhất là đoạn nói về cô Marie, từ cách xây dựng tâm lý nhân vật cho đến việc tái tạo môi trường làm việc của phóng viên người Pháp. Trong phim, câu chuyện của ba nhân vật được phân đoạn một cách đồng đều. Nhưng thời lượng cân bằng dành cho mỗi nhân vật, lại tạo ra sự thiếu cân xứng về mặt trọng lượng vì ý nghĩa của mỗi câu chuyện không ngang tầm với nhau. Trong ba nhân vật, George có vẻ quan trọng hơn cả, anh không những là dấu gạch nối giữa cõi âm và cõi dương mà còn là người có thể giải đáp những khúc mắc của hai nhân vật kia.

Người đi lưu luyến cõi trần, kẻ ở ray rứt nội tâm
Không có giác quan thứ 6 của George, thì cậu bé Marcus sẽ không thể giao tiếp với người đã khuất, và cô Marie sẽ không thể nào trả lời cho câu hỏi: chết là dấu chấm hết hay lại là điểm khởi đầu cho một cuộc hành trình khác. Bên cạnh đó, nhịp điệu của bộ phim cũng bị mất cân đối. Nếu như trong phần đầu của bộ phim, đạo diễn Clint Eastwood dành khá nhiều thời gian để kể câu chuyện của ba nhân vật, thì trong đoạn cuối, mạch phim bỗng nhiên tăng tốc: tuy không lạc điệu nhưng vẫn bị lệch nhịp. Có thể nói là kịch bản được thắt nút chậm mà chặt, nhưng sau đó lại tháo gỡ hơi vội vàng nên không tránh khỏi vài chỗ vụng về.

Nhìn lại, Hereafter không phải là tác phẩm xuất sắc nhất của Clint Eastwood, nếu phải so sánh với các tác phẩm trước của ông là Gran Torino, Mystic River hay The Bridges of Madison County. Dưới lớp vỏ tâm linh huyền bí, cốt lõi của bộ phim nói về nỗi ám ảnh của những người sống sót nhiều hơn là về cái chết. Cậu bé Marcus đau buồn trước cái chết của người anh sinh đôi và chỉ cảm thấy nguôi ngoai khi được nghe lời nhắn nhủ của Jason. Cô Marie không hiểu vì sao mình thoát chết sau trận sóng thần, trong khi hàng trăm ngàn người đã bỏ mạng. Marie bị ám ảnh và chỉ cảm thấy bình an hơn trong tâm hồn khi viết sách làm chứng. Kinh nghiệm cận tử lại đem lại cho Marie một lẽ sống mới.

Còn nhân vật George cuối bộ phim có vẻ như an phận. Trước kia, anh bị dằn vặt ray rức do ở trong tư thế đối đầu, phủ nhận giác quan thứ sáu của mình. Một khi đã chấp nhận, lòng anh cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Vì dù muốn hay không, suốt đời anh phải sống với cái tài gọi hồn, cái khả năng nói chuyện với vong linh người quá cố. Biết bao người đã khuất còn lưu luyến cõi trần, vì trăn trối chưa hết lời. Biết bao kẻ ở lại còn ấm ức nội tâm, vì khi muốn nhắn nhủ thương yêu thì đã quá muộn.

Read more ...

Phim Harry Brown, một vai diễn bằng vàng

Tuấn ThảoMichael Caine từng đóng vai tương tự trong phim
Hận thù là một món ăn nguội, càng lạnh chừng nào, càng ngon chừng nấy. Thành ngữ của người Âu Mỹ rất thích hợp với bộ phim hình sự Harry Brown. Trong tác phẩm đầu tay, đạo diễn Daniel Barber đã tìm cách vạch trần thực tế cuộc sống vùng ngoại ô nghèo ở Anh và trao cho Michael Caine một vai diễn bằng vàng.


Trong phim, Michael Caine thủ vai Harry Brown, một ông lão bất cần đời đã ngoài 70 tuổi. Thời thanh niên, ông đã từng đi lính thủy quân lục chiến, tham gia vào cuộc xung đột ở miền bắc Ailen. Một khi về hưu, Harry coi như là đã an phận với cuộc sống đơn điệu tẻ nhạt. Con gái ông đã qua đời lúc còn trẻ. Vợ ông thì hấp hối chờ chết trên giường bệnh. Phim không nói rõ vợ ông bị bệnh gì, chỉ thấy bà nằm ở bệnh viện trong trạng thái hôn mê bất tỉnh. Người đàn ông già cô đơn mỗi ngày đi thăm vợ, cầm tay vuốt má người bạn đời cho dù ông không biết vợ mình có nghe được những lời vỗ về an ủi hay không. Đến ngày vợ ông qua đời, cuộc đời của Harry coi như là đã mất thêm một lẽ sống. 

Niềm vui duy nhất trong ngày là khi Harry gặp mặt người bạn già thân thiết tên là Len (cách gọi thân mật của nhân vật Leonard). Hai người sống cùng một xóm, họ thường rủ nhau đi uống bia, đánh cờ. Cuộc sống ở dãy phố ngoại ô chẳng có gì là yên bình, kể từ khi một băng đảng du côn nắm lấy quyền kiểm soát các lối đi, canh chừng các ngỏ ra vào. Từ căn hộ ngăn nắp của mình, Harry vẫn thường xuyên chứng kiến bọn lưu manh hành hung khách qua đường, các trò buôn ma túy trong đường hầm dành cho người bộ hành. Láng giềng hàng xóm đều sống trong nỗi sợ hãi, kể từ khi có vụ giết người vô cớ. Các tên đu đãng lái xe gắn máy, rồi nã súng bắn bừa vào người đi bộ. Một người phụ nữ dẫn con nhỏ đi dạo, vì thế mà chết một cách oan uổng.



Tuy biết vậy, nhưng cảnh sát chỉ can thiệp để lấy lệ. Khu phố nghèo trở thành lãnh thổ của băng đảng tội phạm, công lý tư pháp nhường chỗ lại cho luật rừng, cá lớn nuốt chửng cá bé, kẻ mạnh bắt nạt kẻ yếu. Cũng như bao người khác trong xóm, ông Harry vẫn mặc kệ làm ngơ, không muốn chuốc lấy tai họa vào thân. 

Cho đến một ngày kia, cảnh sát điều tra (nhân vật Frampton) đến nhà ông gõ cửa, báo cho Harry là Len người bạn thân của ông đã bị sát hại. Trước mặt nhân viên cảnh sát, Harry vẫn trầm tĩnh từ tốn, nhưng khi họ đi rồi, thì Harry lại vỡ òa nước mắt, một mình trong tiếng khóc. Sau vụ án mạng, cảnh sát bắt giữ tạm giam 4 nghi can, nhưng các cuộc thẩm vấn vẫn không đem lại kết quả. Do không có bằng chứng, nên rốt cuộc các tên lưu manh lại được thả về nhà. 

Hận thù trong tim, hung thần máu lạnh 
 
Nhân vật Harry chỉ thật sự quyết định trả thù, một mình ra tay thực thi công lý khi tính mạng của ông bị đe dọa trực tiếp. Vào một buổi tối, trên đường về nhà, ông bị kẻ lạ mặt dí dao vào cổ, hăm dọa đòi tiền. Trong phút chốc, Harry bỗng tìm lại phản xạ tự vệ của một người lính thủy quân lục chiến, quay ngược lưỡi dao đâm chết tên côn đồ. Cuối cùng, chiếc hộp pandora đã mở. Harry Brown trở thành một hung thần giết người không gớm tay, trả thù không nháy mắt. 

Ông lần tìm những manh mối để truy ra các thủ phạm, trong khi cuộc điều tra cảnh sát vẫn dậm chân tại chỗ. Vụ sát hại Leonard, người bạn thân của Harry, đã bị bọn lưu manh thu hình vào điện thoại di động. Nhưng thay vì giao lại bằng chứng này cho cảnh sát để bắt giữ thủ phạm, Harry nhất quyết giết từng người một. Bộ phim kết thúc với một cuộc thanh toán đẫm máu tại một quán rượu. Ngay cả tên trùm băng đảng không ngờ là dù bị trọng thương, ông lão lại liều mạng quyết tử đến như thế. Hận thù : một món ăn nguội. Trong tim Harry, chỉ toàn là máu lạnh. 

Cuộn phim Harry Brown tựa như một cái tát vỗ vào mặt, một cú đấm huých vào bụng. Có lẽ cũng vì thế mà khi xem xong, khán giả không khỏi sững sờ chết điếng trong lòng. Đây không phải là lần đầu tiên nam diễn viên Michael Caine đóng phim hành động, vì ông đã từng thủ vai một cách xuất sắc trong các tác phẩm với nội dung tương tự như Get Carter của đạo diễn Mike Hodges (phim này sau đó được quay lại với Stallone trong vai chính), Ipcress File của Sidney J Furie, hay Play Dirty của André De Toth. Nhưng nếu như trong phim Get Carter, ông vào vai một tên tội phạm, sau khi ra tù tìm cách trả thù cái chết của người anh, thì ngược lại nhân vật Harry Brown là một người lương thiện, thời đi lính ông trực diện với cái chết và giết người trong hoàn cảnh chiến tranh xung đột. 

Ăn miếng trả miếng, dùng độc trị độc 
 
Xem phim Harry Brown, người ta liên tưởng đến nhân vật Paul Kersey do Charles Bronson thủ vai trong loạt phim Death Wish. Trong phim này, Charles Bronson vào vai một kiến trúc sư, trả thù cái chết của vợ con. Người ta cũng nghĩ đến viên thanh tra Harry Callahan trong loạt phim Dirty Harry. Điểm chung của các nhân vật này là họ dùng độc trị độc, dùng sức mạnh để giải quyết bạo lực. Họ không có bạn thân nào khác ngoài cái tên của những khẩu súng lục Magnum, Colt hay Walter PKK. 

Nhưng sự so sánh sẽ dừng lại ở đó, vì Harry Brown là mẫu người mà ta có thể bắt gặp trong đời thường, trong khi các nhân vật mà Hollywood chuyên tạo dựng thường là những anh hùng trừ gian diệt bạo. Thật ra, Harry Brown gần giống hơn với mô típ nhân vật William Munny, mà đạo diễn Clint Eastwood đã quay cho bộ phim Unforgiven (Không thể tha thứ). Trong cả hai bộ phim này, màn cuối khá giống nhau với cảnh thanh toán đẫm máu trong quán rượu, chỉ có điều một bên là phim cao bồi, còn bên kia là phim hình sự. 

Harry Brown không phải là hạng người anh hùng cứng cựa gân cốt. Bằng chứng là vì rượt đuổi kẻ gian mà ông lên cơn đau tim, phải đưa vào bệnh viện. Ông cũng chẳng phải là tay súng thiện xạ, bắn phát nào trúng phát nấy. Nơi nhân vật này chỉ còn một trái tim sỏi đá chai lỳ, điếc không sợ súng, già không sợ chết. Một khi vợ ông đã từ trần và người bạn thân qua đời, Harry đă mất đi những điểm tựa cuối cùng, mất luôn cái bản tính tốt còn sót lại trong tâm hồn. Suy cho cùng, Harry Brown trả thù không phải vì tâm hồn hào hiệp, mà thật ra ông chẳng còn thiết tha với cuộc sống. Trong màn cuối, khi bị dí súng vào mặt, ông không sợ mà lại xem đó là cách cuối cùng để giải thoát nỗi khổ đau.

Tuy gọi là phim hành động, nhưng Harry Brown lại thiên về mạch phim tâm lý xã hội nhiều hơn. Trong tác phẩm đầu tay của mình, đạo diễn Daniel Barber quay nhiều đoạn như phim tài liệu, diễn đạt cao độ tính chất hiện thực khi mô tả thế giới thu nhỏ của các băng đảng tội ác, thành phần thiếu niên ở những khu phố nghèo nghĩ rằng họ dễ kiếm tiền bằng con đường bất chính hơn là làm ăn lương thiện. Thời thanh niên, Harry Brown cầm lấy vũ khí để đấu tranh cho một chính nghĩa. Thanh niên ở các khu phố nghèo thời nay không còn lý tưởng để đeo đuổi.

Đạo diễn Daniel Barber buộc người xem phải suy ngẫm trước câu hỏi : trong một chính sách phát triển xã hội, việc bỏ rơi những khu phố nghèo, rồi để cho các băng đảng kiểm soát thao túng, phải chăng là trách nhiệm của một nhà nước pháp quyền. Xa hơn nữa, phải chăng đó là trách nhiệm của cộng đồng tập thể, khi mỗi người chỉ lo cho chuyện của mình, dù ý thức những gì đang xảy ra ở xung quanh nhưng vẫn khoanh tay đứng nhìn hay mặc kệ làm thinh.

Đường xuống địa ngục, ngưỡng cửa cuối cùng 
 
Trong phim Harry Brown, mạch phim xã hội tràn ngập trên màn ảnh, không khí căng thẳng, tăm tối, càng đến gần đoạn kết càng sặc mùi bạo lực. Đặc biệt là trong màn quay tại căn nhà trồng cần sa, dưới ống kính của Daniel Barber, nhân vật Harry Bown càng không nhân nhượng, không thỏa hiệp. Có lẽ cũng vì thế mà bộ phim bị nhiều nhà phê bình chỉ trích là cực đoan, quá khích khi đẩy bạo lực leo thang đến tột cùng. Cách mô tả xã hội đen của đạo diễn do thiếu phân tích nên chỉ dừng lại ở mức phác họa, với những đường nét thô thiển chứ chưa thể là tinh tế. Đó là khuyết điểm chính của bộ phim.

Ngược lại, ưu điểm của tác phẩm là tạo cơ hội ngàn vàng cho Michael Caine thi thố tài năng diễn xuất. Nơi Harry Bown không có chuyện tức nước vỡ bờ, giọt nước tràn ly. Toàn bộ phim được quay với nhịp điệu khá chậm, quyết định thanh toán kẻ thù dần dần chín mùi trong tư tưởng của nhân vật chứ không đột ngột nảy sinh trong tâm trí. Sự trả thù của Harry Bown là hành động của một kẻ không còn gì để mất. Trong cuộc hành trình dẫn xuống chín tầng địa ngục, hung thần Harry Brown không còn sợ khi phải vượt qua ngưỡng cửa cuối cùng.

Read more ...

The Reader: Chiến tranh và mặc cảm tội lỗi

Kate Winslet và Ralph Fiennes, hai diễn viên chính trong phim The Reader

Trong bộ phim cũng như trong tiểu thuyết The Reader, điều bí mật ghê gớm nhất là người dân Đức đã để xảy ra vụ diệt chủng, mà các thế hệ đương thời, cũng như mai sau, không tài nào lý giải nguyên nhân hoặc tha thứ

Một mùa hè tươi sáng.

Một mối tình rạo rực đam mê.
Hai định mệnh mà Chiến tranh và Hoà bình trói buộc vào nhau chẳng thể ngờ.

Bộ phim The Reader mở đầu bằng cảnh đường phố năm 1995 tại Berlin. Michael Berg, một luật sư Đức từ cánh cửa sổ nhìn xuống đường. Ông nhớ lại thời còn rất trẻ, vào năm 1958. Lúc ấy mới ở tuổi 15, cậu bé Michael còn sống với gia đình tại thành phố Neustadt.

Một hôm, trên đường từ trường học về nhà, cậu lâm bệnh bất thình lình. May mắn thay, cậu được một phụ nữ, ngoài 30, bà Hanna Schmidz giúp đỡ và đưa cậu về đến nhà. Vài tuần sau, một khi đã bình phục, Michael mua hoa, mang đến nhà Hanna để cảm ơn. Chẳng mấy chốc, Hanna đã quyến rũ Michael, cho dù nàng hơn Michael 20 tuổi đời.

Là đứa con trai mới lớn, Michael được Hanna dẫn dắt vào thế giới của dục vọng, với một điều kiện là : Michael đọc cho nàng những quyển tiểu thuyết mà thiếu niên này mang từ trường lớp về nhà để học tập.

Hanna dẫn dắt Michael vào thế giới của dục vọng, với điều kiện là : cậu thiếu niên đọc truyện cho nàng

Hanna dẫn dắt Michael vào thế giới của dục vọng, với điều kiện là : cậu thiếu niên đọc truyện cho nàng

Cứ như thế Ulysse của Homer và Chiến tranh và Hoà bình của Tolstoi,Người đàn bà và con chó bé nhỏ của Tchekhov hay Người tình của Lady Chatterley của D.H. Lawrence, các câu truyện này được Michael đọc to tiếng cho Hanna nghe, trước khi họ đắm mình trong cơn ân ái. Nhưng bỗng một hôm, Hanna dọn nhà, ra đi không một lời từ giã.

Phần hai của bộ phim đưa khán giả về thời điểm 1966. Tám năm sau, Michael giờ đây là chàng sinh viên học luật tại Berlin. Trong một lớp tập sự, Michael cùng các sinh viên khác được vị giáo sư hướng dẫn vào tham dự một phiên toà xét xử đám cai ngục thời Đức Quốc Xã, đã tiếp tay diệt chủng người Do Thái.

Trong số các bị can, Michael bàng hoàng nhận ra Hanna, người tình của chàng ngày trước. Qua lời Toà án chất vấn bị can, Michael sững sờ hơn nữa khi phát hiện, chính Hanna trong chiến tranh ở địa vị người cai ngục, đã chỉ định hàng trăm nạn nhân để đưa họ vào lò thiêu. Cũng chính Hanna đã không giải thóat cho đám tù nhân, mà còn khóa kín cửa một nhà thờ bị ném bom, để mặc hàng trăm người Do Thái bị thiêu sống.

Hanna, con người hai mặt, từ kỷ niệm ngày xưa mà Michael còn giữ kín, trở thành hiện thân của phát xít, của cái Ác. Đau đớn hơn nữa cho Michael, chỉ mình anh phát hiện ra điều bí mật mà Hanna đã hổ thẹn che giấu suốt cuộc đời : nàng là kẻ mù chữ. Bởi lẽ đó, nàng yêu thích được người khác đọc sách cho mình.

Vì Hanna mù chữ, nên cô thích được người khác đọc sách cho mình

Vì Hanna mù chữ, nên cô thích được người khác đọc sách cho mình

Kẻ thất học này, trong lúc làm cai ngục, cũng đã thường bắt các tù nhân đọc truyện cho mình nghe, trước khi dồn họ vào con đường chết. Nhưng Michael không đủ can đảm để tiết lộ với Toà án điều bí mật của Hanna. Nếu các vị thẩm phán có bằng chứng là Hanna thất học, thì có lẽ, họ đã rộng lượng hơn, chứ không tuyên xử Hanna với bản án nặng nề là tù chung thân.

Gương mặt đời thường của cái Ác

Trong phần ba, câu chuyện The Reader rẽ sang lối khác và xem xét mặc cảm tội lỗi của người Đức, sau khi để xảy ra vụ diệt chủng ghê gớm nhất lịch sử nhân lọai.

Trong suốt 20 năm sau phiên toà, Michael gửi cho Hanna những gói quà nặc danh, chỉ gồm toàn băng cassét, ghi lại các tiểu thuyết do anh đọc. Ở tù, nhờ vào các băng ghi âm, Hanna đã học viết. Hanna không còn là kẻ mù chữ. Hanna gửi nhiều lá thư cho Michael, nhưng chẳng bao giờ được hồi âm.

Trước ngày được giảm án và được phóng thích, Hanna nhận tin vui. Michael viếng thăm bà với bó hoa như ngày trước và hứa sẽ cưu mang bà, tìm cho bà một chỗ ở và một công việc. Ngày hôm sau, Michael đến nhà tù để đón bà ra. Nhưng Hanna đã tự vẫn, để lại món tiền dành dụm mà bà nhờ Michael trao lại cho một người con gái Do Thái, vào lúc trước, đã thóat thân khỏi ngục tù và sau này sinh sống tại Hoa Kỳ.

Xem bộ phim này, và đối với ai có điều kiện đọc tiểu thuyết The Readercủa nhà văn Đức Bernhard Schlink, không thể không liên tưởng đến câu nói của nữ triết gia Hannah Arendt khi bà theo dõi phiên toà xử một tên đồ tể Đức Quốc Xã khét tiếng là Adolf Eichmann. Hannah Arendt đã nói đến “Gương mặt đời thường của cái Ác”.

Bà dùng cụm từ trên để chỉ định những con người tầm thường đã tiếp tay cho Đức Quốc Xã, đã tuân thủ lệnh cấp trên để phạm vào cái tội ác tầy trời, mà không hề có ý thức phê phán hay sự độc lập tư tưởng. Họ không phải là Ác qủy, họ chỉ là kẻ thừa hành. Thế nhưng họ vẫn ác, họ vẫn vô lương tâm và không thể tha thứ nỗi.

Nhờ bộ phim The Reader, Kate Winslet đã đoạt giải diễn xuất trong kỳ trao giải Oscar 2009, bên cạnh Sean Penn và Penelope Cruz (Reuters)

Nhờ bộ phim The Reader, Kate Winslet đã đoạt giải diễn xuất trong kỳ trao giải Oscar 2009, bên cạnh Sean Penn và Penelope Cruz (Reuters)

Đôi khi, họ đáng thương như nhân vật Hanna Schmidz trong câu chuyện. Bà thốt lên trong phiên toà rằng : “ở vào hoàn cảnh của tôi, các ông, các bà sẽ làm gì?”. Rất có thể, Hanna đã biết sám hối. Trong tiểu thuyết, bà thổ lộ vào cuối đời rằng trong tù, mỗi ngày, bà vẫn nằm mơ thấy các bóng ma của nạn nhân Do Thái trở về ám ảnh, hỏi han bà, chất vấn bà. Nhưng có sám hối chăng nữa, bà cũng không thể nào được cứu rỗi.

Do đó, trong bộ phim cũng như trong tiểu thuyết The Reader, điều bí mật ghê gớm nhất là người dân Đức đã để xảy ra vụ diệt chủng, mà các thế hệ đương thời, cũng như mai sau, không tài nào lý giải nguyên nhân hoặc tha thứ.

Việc nhân vật Hanna mù chữ, chỉ là một ẩn dụ của người Đức, mù lòa trong chiến tranh, đã lỡ để cho Đức Quốc Xã phạm Tội ác mà loài người không thể dung thứ và chính con cháu họ cũng không thể thông cảm.

Bảo Thạch - RFI

Read more ...

Phỏng vấn vua hề Charlie Chaplin

Phóng viên: Thưa ông Chaplin, ông sẽ trả lời với tư cách nào? Một nghệ sĩ vĩ đại hay là một người đàn ông có nhiều vợ?

- Chaplin: Theo tư cách của người đàn ông bé nhỏ, cô đơn, với chiếc quần bạc màu, đôi giày mòn vẹt, cây can cũ kỹ… lang thang đi tìm hạnh phúc.

Cuộc sống tình ái của ông cũng phức tạp như cuộc sống nghệ thuật của ông, tại sao?

- Tại vì tôi luôn muốn tình yêu con người cũng đầy sáng tạo như điện ảnh.

Charlie và nữ minh tinh Paulette Goddard từng hưởng tuần trăng mật tại Hà Nội

Khi một vĩ nhân có nhiều mối tình, họ được ca ngợi. Nhưng khi một người thường cũng có nhiều như thế, họ sẽ bị lên án. Ông giải thích chuyện này như thế nào?

- Trong tình yêu không có vĩ nhân và người thường. Chỉ có người đáng được yêu và không đáng được yêu.

Đúng là một số nghệ sĩ như Victor Hugo, Picasso.. được nhiều phụ nữ theo đuổi. Phụ nữ có thể bị choáng ngợp trước tài năng của họ. Song để có điều đó, các nghệ sĩ đã phải vắt kiệt tâm hồn để làm choáng ngợp muôn triệu đàn ông, thanh niên, trẻ nhỏ… trên khắp thế giới. Các nghệ sĩ chưa bao giờ trả rẻ cho tình yêu. Thậm chí Puskin đã phải trả giá bằng sinh mạng mình. Đừng mặc cảm. Hãy nhớ là bạn không làm được như vĩ nhân thì cũng có rất nhiều điều vĩ nhân không làm được như bạn.

Nổi bật trong các tác phẩm của ông là hình bóng một người lang thang, đơn độc, nghèo khổ….

- Tôi phản đối. Đó chỉ là bề ngoài. Nổi bật là người đàn ông đó nhạy cảm, dễ tổn thương, không bao giờ mất đi niềm tin vào cái đẹp. Nhân vật ấy cũng không đi lang thang mà đi tìm hạnh phúc. Nhân vật ấy đơn độc chứ không đơn điệu. Nhân vật ấy khổ vì nghèo, chứ đâu có nghèo vì khổ…

(Trích “Thư của bà vợ gửi cho bồ nhí” - tiểu phẩm của đạo diễn Lê Hoàng)

Read more ...

Website counter