Tại sao đức tính mạnh mẽ lại cần thiết để sống một đời sống tốt lành?

Khi xem xét vấn đề mà một cá nhân phải giải quyết, ta cần phải xét luôn những hoàn cảnh mà cá nhân đó bị ảnh hưởng bởi thời vận - cả xấu lẫn tốt. Trước khi bàn về cách thức giải quyết vấn đề này như thế nào, ta cần làm sáng tỏ những từ ngữ này.

Nói đến thời vận tức là nói đến bất kỳ khía cạnh nào của đời sống mà nằm ngoài tầm kiểm soát của ta--những điều xảy đến cho chúng ta, những chuyện tình cờ xảy đến cho ta, cả xấu cũng như tốt. Nói đến vận rủi, tôi muốn nói đến những chuyện tình cờ hay hoàn cảnh có ảnh hưởng tai hại hay không thuận lợi cho việc tạo dựng một đời sống tốt đẹp cho bản thân. Còn vận may, tức là những điều ngược lại--những hoàn cảnh hay chuyện tình cờ khiến cho đời sống của ta trở nên thuận lợi. 

Trong một chương trước, ta thấy rằng cuộc đời của một người có thể bị hủy hoại ngay từ lúc sơ sinh hay thơ ấu vì những điều cực kỳ không may xảy ra. Không phải người ta chỉ bị xui xẻo từ khi thơ ấu mà còn có thể gặp nhiều vận rủi lớn lao lúc ở vào tuổi trung niên hay tuổi già xế bóng. Những điều rủi ro cực độ đều có tác dụng hủy hoại. Ta cũng có thể thấy được có những người bị ảnh hưởng tai hại, điều mà ta thường nói là "bị hư" vì lúc nhỏ đã được vận may [hay cha mẹ] nuông chiều quá mức. Sự thái quá này có lẽ sẽ không có tác dụng tai hại khi người đó đã lớn, nhưng có quá nhiều sự may mắn vẫn có thể là một sự trở ngại nghiêm trọng trong việc phát triển nhân cách, vì những sự may mắn này đều mang tính chất cám dỗ cao độ. Một người làm việc lao động vất cả mà chỉ đủ sống thì chắc chắn sẽ bị cám dỗ với những ý tưởng rong chơi hay nằm ngủ cả ngày. Còn về cực bên kia, những người sống trong nhung lụa hay có phương tiện để sống xa hoa thì cũng bị những sự cám dỗ mạnh mẽ khác có ảnh hưởng xấu đến đời sống của người đó; những sự cám dỗ của xa hoa cũng tác động mạnh mẽ như sự túng thiếu đối với cuộc đời của kẻ không may. 

Những hoàn cảnh bình thường, theo tôi, là những hoàn cảnh nằm ở giữa hai cực của vận may và vận rủi. Còn những hoàn cảnh bất thường là những hoàn cảnh có khuynh hướng thiên về một trong hai cực nhưng không quá độ đến nỗi không ai có thể vượt qua được những trở ngại do các hoàn cảnh như vậy gây ra. 

Như vậy, ở đây ta có một vấn nạn. Nếu sống một đời sống tốt(1) trong những hoàn cảnh bình thường đã khó, và lại còn khó hơn khi gặp hoàn cảnh bất thường, thì người ta có được những phương sách nào tự trong bản thân mình để đối phó với những ảnh hưởng quá độ do vận may và vận rủi mang lại. Ở đây ta không bàn đến những trường hợp quá độ vượt quá sức con người bình thường. 

Mặc dù tôi không cho rằng lẽ thường(2) có thể giúp ta có câu trả lời thích hợp cho vấn nạn này, điều mà tôi muốn nói là những giải pháp do lẽ thường đưa ra chắc chắn là thích hợp và khá là thỏa đáng. Nếu ta thấy những giải pháp do lẽ thường đưa ra có chỗ được thỏa đáng, có lẽ vì những điều mà lẽ thường hướng dẫn thì dễ hiểu hơn là dễ làm.

***

Trước hết hãy bàn về vận rủi, tức là những điều có ảnh hưởng tai hại hay không thuận lợi đến việc tạo dựng một đời sống tốt cho mỗi cá nhân. Những điều này gồm có bệnh hoạn triền miên hay bị tàn tật; không có khả năng kiếm được việc làm đàng hoàng để sinh sống mà không phải vì lỗi của mình;(3) bị thương tật đến thể chất do kẻ khác hay xã hội gây ra; bị cô đơn hay mất đi người thân hay bạn bè, vì lý do này hay lý do khác; những ảnh hưởng trên đời sống cá nhân vì chiến tranh, bạo loạn, và bất ổn xã hội; và sau cùng là ảnh hưởng của một nền văn hóa mà những giá trị của nó--những điều được đề cao và những điều bị coi thường--lại tương phản với cách sống của một người để qua đó tạo dựng một đời sống tốt lành.(4)
 
Tôi đã không liệt kê trong danh sách này những rủi ro từ sơ sinh, và từ thuở thiếu thời bởi vì đó là những điều xảy ra trước khi một người bắt đầu đương đầu với những vấn nạn mà những rủi ro này gây nên cho người đó; tỉ như, không được học hành đàng hoàng, hoàn cảnh gia đình thiếu thốn, trời cho tư chất kém. Tuy nhiên, những rủi ro này, ta cũng nên để ý tới, với điều kiện là, những rủi ro này, cũng như những rủi ro khác sẽ xảy ra trong thời gian sau của cuộc đời, không quá khắc nghiệt đến nỗi không thể vượt qua được. 

Nhưng người ta đối phó với vận rủi như thế nào? Câu trả lời theo lẽ thường là bằng sức mạnh của đức tính. Tiếng La-tinh của từ này là fortitudo, theo tiếng Việt là "nghị lực." Nói nôm na, nghị lực là sức mạnh đạo đức hay ý chí để vượt qua mọi trở ngại. Có hai lý do để gọi nghị lực là sức mạnh thuộc về "đạo đức" hơn là sức mạnh "thể chất." Sức mạnh thể chất của một người, phần lớn là do trời cho, dù người ta có thể tập luyện làm cho nó tốt hơn chút ít, nhưng đó không phải là điều mà người đó tự ý mình đạt được. Sức mạnh đạo đức, ngược lại, thuộc về phạm vi của những điều mà người ta có thể đạt được bằng ý muốn và nỗ lực cá nhân. Lý do thứ hai và cũng là lý do sâu xa hơn khi gọi nghị lực là "sức mạnh đạo đức" nằm ở chỗ mục đích nó được sử dụng là gì. Nghị lực có ý nghĩa đạo đức chỉ khi nào người ta dùng nó để vượt qua những trở ngại làm cản trở sự xây dựng đời sống tốt lành cho cá nhân của họ. 

Ta cũng thường thấy--rủi thay việc này xảy ra rất thường--là có người có ý chí vượt qua những trở ngại ngăn chặn sự thành công của họ, nhưng mục đích lại không phải là xây dựng một đời sống tốt mà là một đời sống xấu xa của tội ác, của lười biếng, của ăn chơi, một đời sống đầy rẫy những xa hoa nhưng lại thiếu đi những điều tốt đẹp khác. Y cũng tỏ ra cho mọi người thấy có cùng nghị lực hay đức tính của một người tốt, và quyết vượt qua trở ngại để đạt được mục đích. Xét về ý chí, hai người giống nhau, nhưng ta không coi người đó là người đạo đức, chỉ vì nghị lực đó không được dùng để nhắm đến mục đích xây dựng đời sống tốt. Đó chỉ là món hàng giả của nghị lực, thiếu đi phẩm chất đạo đức. 

Giả sử đời sống của một người mà hoàn toàn không bao giờ gặp phải những nghịch cảnh nghiêm trọng, thì liệu người đó có cần phải có nghị lực để sống một đời sống tốt hay không? Nếu không  phải vậy, thì lẽ thường và kinh nghiệm thông thường đã chứng minh là ở một mức độ nào đó, nghị lực là một tố chất thiết yếu trong tiến trình xây dựng thành công một đời sống tốt. 

Câu trả lời này tương đối đầy đủ, nhưng chưa hoàn toàn. Lẽ thường không chỉ dẫn cho ta cách phát triển nghị lực tới mức độ cần thiết để đối phó với những nghịch cảnh mà ta gặp phải. Về phương diện này không một ai biết rõ đức tính được tạo thành như thế nào để chỉ dẫn lại cho người khác đang cần được hướng dẫn, kể cả đó là cha mẹ, thầy cô, hay chính cá nhân người đó tìm ra phương sách để rèn luyện, dù ai cũng hiểu là nghị lực là điều cần có. Kết quả, đương nhiên, là một tình trạng hoàn toàn không thể chấp nhận được, nhưng chưa có ai, theo tôi biết, tìm ra phương thức để cải sửa. 

***

Hãy xét đến mặt bên kia của vấn đề: một người được hưởng quá nhiều vận may, [nhưng có quá nhiều] những điều tốt lại trở nên xấu bởi vì những cám dỗ tiềm tàng--những sự cám dỗ khiến cho người ta dễ dàng phí phạm thì giờ, đắm mình trong khoái lạc nhất thời, hưởng thụ vật chất xa hoa. Nói một cách khác là sống hết ngày này qua ngày khác theo những giây phút vui vẻ, thay vì phải khổ công và vất vả để sống một đời sống tốt. Làm cách nào để cho một người đã hiểu được thế nào là sự khác biệt giữa một đời sống tốt và thời gian vui vẻ, và đã chọn xây dựng đời sống tốt làm mục đích cuộc đời? Làm cách nào để người đó đối phó được với những cám dỗ do vận may quá độ mang lại? 

Câu trả lời mà lẽ thường cho chúng ta trong trường hợp này cũng tương tự như trong trường hợp trước; đó là sức mạnh của đức tính, của nghị lực và ý chí. Chỉ có điều là về phương diện này, theo ngôn ngữ thường dùng, đức tính này có một tên khác: không gọi là nghị lực, nhưng gọi là sự tiết độ hay tự chủ. Ta vẫn thường gọi một người tiết độ là người có khả năng tự kiềm chế bản thân để không chiều theo những khoái lạc bất kể thuộc loại nào, hay khi người đó có thể tránh được sự quá trớn khi thu hoạch những điều tự nó tốt, nhưng chỉ tốt khi có chừng mực. (Như thế, một người có tiết độ sẽ không nhận một công việc có lợi tức cao, nhưng phải làm việc quá nhiều giờ đến nỗi không có thì giờ cho những công việc thư nhàn(5)). 

Sự tiết độ không phải là sự khắc kỷ, khổ hạnh mà khác rất xa. Tiết độ không có nghĩa là tránh xa những khoái lạc của đời sống; tiết độ không xem thường sự thỏa mãn của vui chơi; không cắt xén hết những sự thoải mái của cuộc sống để dành thì giờ chuyên tâm "tu tập" cho đời sống tốt hơn. Một chân lý của lẽ thường cho thấy rằng, thực ra ta cũng có thể có rất nhiều điều tốt trong đời chứ, nhưng sự tiết độ gồm có ý chí để đối phó với những loại vận may mà sẽ mang lại cho ta quá dư thừa tài vật. Giống như nghị lực, sự tiết độ là sức mạnh của đức tính, và cũng giống như nghị lực, nó là một phần tử của đức hạnh chỉ khi nào nó được rèn luyện và thực hành nhằm xây dựng một đời sống tốt. Và chỉ vì lý do đó mà thôi. Là hai phương diện có tương quan với nhau của đức hạnh, cả hai đức tính này giúp cho người ta có sức mạnh đạo đức cần thiết để sống một đời sống tốt. Nghị lực và sự tiết độ khác nhau ở chỗ: một đằng là thái độ vững chắc đối phó với nghịch cảnh, khó khăn, đau đớn; một đằng là thái độ vững chắc đối với những sự quá độ về hạnh phúc, tài vật, hay khoái lạc do vận may mang lại. 

Lý do khiến cho nghị lực trở nên một đức tính thiết yếu cũng áp dụng được trong trường hợp tiết độ, dù trong trường hợp này có thể không rõ ràng cho lắm, vì có nhiều quá những điều may mắn không có vẻ sẽ gây nên đau khổ cho người nhận, như trong trường hợp nghịch cảnh. Tuy nhiên, không có ai trong đời mà lại có thể thoát được sự cám dỗ của khoái lạc hay sự cám dỗ của việc hưởng lạc thú khoảnh khắc (good time) với điều khó khăn hơn là xây dựng đời sống tốt (good life). Như Marcus Aurelius, vừa là đại đế của đế quốc La Mã, vừa là triết gia phái khắc kỷ, đã từng nói, dù là khó nhưng không phải là điều bất khả để "sống một đời sống tốt trong cung điện." 

Thêm vào điều này, trước hết ta cần phải nhận thức rằng ngay cả khi ta không bị ảnh hưởng bởi những điều quá độ của vận rủi hay vận may, ta cũng cần có sức mạnh của đức tính. Ta cần có nghị lực và sự tiết độ để thực hiện kế hoạch xây dựng cuộc đời của mình, chính vì bản kế hoạch này đòi hỏi ta phải cân nhắc những quyền lợi thuộc về khoảnh khắc với những quyền lợi của cả đời. Những khoảnh khắc vui thú, hay khoái lạc trong chốc lát có sức cám dỗ rất mạnh. Ta vẫn dễ dàng muốn có nhiều tài sản hơn là ta cần. Trốn tránh việc khó vẫn dễ dàng hơn là vất vả để làm việc tốt. Cái điều đòi hỏi để thực hiện hành vi đạo đức nhằm đạt đến mục đích ta tìm kiếm--một đời sống toàn diện và tốt vì đời sống đó bao gồm những điều thực sự tốt cho con người, những điều không thái quá, không bất cập--chính là đạo đức và đức tính. Đạo đức và đức tính chính là ý hướng đã được rèn luyện thành tập quán nhắm về đời sống tốt hơn là nhắm vào khoảnh khắc vui chơi, chính là chọn lựa điều thực sự tốt về lâu về dài hơn là những điều có vẻ tốt trong hiện tại. 

Như ta đã biết, tất cả mọi khoái lạc đều là những điều tồn tại trong khoảnh khắc, nhưng mang tính chất tức thời và có sức lôi cuốn rất sinh động và trở thành một nguồn lực rất mạnh cạnh tranh với ước muốn xây dựng một đời sống tốt của ta--một mục đích không những xa vời, mà ta còn không biết là sẽ có thể kinh nghiệm qua hay hưởng thụ được đời sống như vậy không nữa, so với những khoái lạc của hiện tại. Ngay cả nếu những hoàn cảnh của đời sống một người là những hoàn cảnh bình thường, thì người đó vẫn cần sức mạnh của đức tính, tức là sự tiết độ, để bỏ qua hay giới hạn lại những khoái lạc tức thời cho cái tốt lớn lao hơn dù có xa vời, tức là cái tốt của cả đời sống. Về một phương diện khác, ngủ, chơi, làm biếng là những điều dễ làm, còn những công việc lúc thư nhàn thì lại khó khăn, đôi khi còn mệt mỏi và đau đớn nữa. Vì kế hoạch để tạo dựng đời sống tốt đòi hỏi ta phải dùng thì giờ rảnh rỗi vào những công việc thư nhàn cũng nhiều bằng hoặc hơn thì giờ để ngủ, để chơi, hay không làm gì hết, cho nên, cái sức mạnh của đức tính--nghị lực--là điều cần thiết để chịu đựng những đau khổ hay khó khăn cần thiết cho việc xây dựng một đời sống tốt thay vì chỉ hưởng thụ những khoái lạc nhất thời theo ngày lại qua ngày. 

Điều thứ hai ta cần xem xét liên quan đến việc những người mang bệnh hay suy nhược thần kinh. Những bệnh tật hoặc suy nhược về thể chất mà không có thuốc chữa cũng có thể làm cho ta mất khả năng hay tạo ra một trở ngại không thể vượt qua được trong việc xây dựng một đời sống tốt; những bệnh tâm thần không có thuốc chữa, như bệnh điên cần phải điều trị trong nhà thương mà những cách chữa cũng không làm cho bệnh nhân trở lại bình thường, cũng có những hậu quả tương tự như vậy. Nhưng trong chúng ta, những người không đến nỗi quá xui để mắc những bệnh như vậy, vẫn có thể bị những trường hợp rối loạn thần kinh khiến cho không thể có những sự lựa chọn đúng đắn mà một người đạo đức sẽ làm. Trong trường hợp này, ta không thể vận dụng được ý chí hay sự tự chủ cần thiết để chọn phương thức này thay vì giải pháp nọ hầu giúp ta đạt được đời sống tốt cho bản thân. Phương thức chữa trị trong trường hợp này thuộc về y học chứ không phải là đạo đức, là cách thức chữa trị bằng tâm lý trị liệu chứ không phải là những lời khuyên bảo và khích lệ về đức tính hay đạo đức. Có một số người trong chúng ta cần được giúp đỡ để vượt qua những trở ngại về tâm thần, những trở ngại có thể khiến cho ta không làm được, hoặc làm cho việc trở thành chủ nhân của chính cuộc đời của mình thêm khó khăn. 

Nhưng khi vấn đề y học được giải quyết rồi, vấn đề đạo đức vẫn còn đó. Dùng y học để giải quyết tình trạng không có khả năng suy xét đúng sai của một người không có nghĩa là người đó đương nhiên có quyền làm việc sai trái. Một người mà đã được chữa lành chứng bệnh rối loạn tâm thần thì cũng ở trong một hoàn cảnh y hệt như những người may mắn khác không bị bệnh tật như vậy. Cả hai phải, bằng một cách nào đó, vận dụng ý chí, sức tự chủ và nghị lực để chọn những gì thực sự tốt cho mình trên đường dài chứ không phải chỉ những gì có vẻ tốt thuộc về nhất thời. 

Điểm thứ ba, ta cần phải thêm vào là nguồn lực nội tại cần thiết để cho một người xây dựng được đời sống tốt lành cho chính mình bao gồm nhiều điều hơn cả sức mạnh của đức tính--còn cần hơn cả sự tiết chế hay nghị lực. Lẽ thường cho ta thấy là có một sức mạnh hay đức tính không thể thiếu được, cái mà ta vẫn thường gọi, khi là "cẩn trọng," lúc là "khôn ngoan." Đây là tính bẩm sinh của tâm trí hơn là một đức tính do tập luyện mà thành. Hành động thường xảy ra trong những tình huống đặc thù nào đó, và khi nào mà hành động của ta là những hành động tự nguyện và có tính chất lựa chọn, thì giá trị của những sự chọn lựa khác cũng cần phải được cân nhắc, không những vì những giá trị [và ảnh hưởng] do những chọn lựa này mang lại ngay tức khắc, mà còn ở trên đường dài của cả cuộc đời nữa. Sự cẩn trọng đòi hỏi ta phải cân nhắc những sự chọn lựa có cùng giá trị không phải chỉ vì chúng làm cho ta thỏa mãn và hài lòng trong giây phút hiện tại, mà còn đến ảnh hưởng về lâu về dài của những chọn lựa này. 

Cuối cùng, nếu cần thì ta phải nói đi nói lại nhiều lần, rằng những đức tính hay thiên hướng này chỉ có giá trị đạo đức, khi và chỉ khi chúng được áp dụng để tạo dựng một đời sống tốt lành; những đức tính này không thể được công thức hóa thành những luật tắc hướng dẫn cho hành động. Nếu việc thực hiện đức hạnh chỉ là việc áp dụng một tập hợp những quy luật, thì đức hạnh có thể được truyền dạy và người ta có thể học được như học những ngành học hay nghệ thuật khác. Nhưng, như ta đã thấy, thực tế không phải như vậy. Trên phương diện căn bản nhất, tạo dựng một đời sống tốt lành cho bản thân thì hoàn toàn khác với tất cả những ngành nghệ thuật khác mà người học cần có quy luật hướng dẫn. Đúng là ta cần có một kế hoạch cho việc tạo dựng đời sống. Nhưng đó là điểm giống nhau duy nhất giữa việc tạo dựng đời sống tốt và việc thực hiện một tác phẩm nghệ thuật, vì trong nghệ thuật, quy luật về kỹ thuật và thủ tục là những điều cần thiết để thực hiện tác phẩm. Còn trong việc tạo dựng một đời sống tốt, thì đức tính thay thế cho quy luật. 




(1) Trong bài này, Adler không đưa ra định nghĩa thế nào là một đời sống tốt, nhưng dùng lối so sánh, độc giả có thể nắm bắt được ý của tác giả về thế nào là một sống tốt lành.
(2) Lẽ thường (common sense) chỉ những lý lẽ thông thường mà ai cũng có và công nhận đúng, không cần thông qua lý luận hay nghiên cứu.
(3) Bị thất nghiệp vì khủng hoảng kinh tế chẳng hạn.
(4) Thí dụ lối sống "chụp giật," "sống chết mặc bay" trong một số xã hội.
(5) Công việc thư nhàn, Adler muốn nói đến ở đây, là những hoạt động của tâm trí mà Aristotle đã bàn trong Chính Trị Luận, như suy tư về triết học và nhân sinh, v.v...

Read more ...

Ẩn của ẩn số

Có những thứ mà chúng ta biết (thực tại đã biết), có những thứ mà chúng ta không biết (ẩn số chưa biết) và còn cả những thứ mà chúng ta không biết là chúng ta không biết (ẩn của ẩn số) (hay còn gọi là Thiên Nga Đen).
- Donald Rumsfeld -

Read more ...

Limelight: 60 năm bộ phim Ánh đèn màu của Chaplin


Charlie Chaplin lúc mới đến Mỹ lập nghiệp

Mới đó mà đã 60 năm ngày ra đời của tác phẩm Limelight (Ánh đèn màu), một trong những bộ phim hay nhất của Charlie Chaplin. Sinh trong một gia đình nghèo người Anh, cha mẹ chuyên đi hát rong, có lẽ không bao giờ vua hề Charlot lại quên thân phận nguyên quán, cái nguồn gốc xuất xứ của một kẻ cơ cực bần hàn.  



Bằng chứng là vào năm 1954, lúc ông bắt đầu cuộc sống tha hương bên Thụy Sĩ, Charlie Chaplin đã ký tặng một ngân phiếu trị giá hai triệu quan Pháp (một khoản tiền lớn so với thời bấy giờ) cho hội từ thiện Emmaüs, sau khi tu sĩ Pierre ngỏ lời thống thiết kêu gọi mọi người giúp đỡ thành phần vô gia cư, giữa cơn lạnh mùa đông khắc nghiệt. 

Khi được hỏi vì sao ông lại hào phóng như vậy, Charlie Chaplin thành thật trả lời: Đây không phải là tiền tôi cho, mà là món tiền tôi trả lại, để đền đáp tất cả những gì mà cuộc đời đã ban tặng cho tôi, một thằng ăn mày trên màn ảnh lớn, không thể nào cực khổ bằng những kẻ ăn xin có thật ở ngoài đời. Tình người và lòng nhân hậu thường bàng bạc xuyên suốt trong tác phẩm của Charlie Chaplin, tiêu biểu nhất là hai cuộn phim The Kid (Thằng Nhóc) và Limelight (Ánh đèn màu, có nhiều người dịch thành Ánh đèn Sân khấu). 

Qua đời tại Thụy Sĩ năm 1977, năm 2012 là đúng 35 năm ngày giỗ của ông, Charlie Chaplin đã để lại trên dưới 90 tác phẩm, trong đó có 7 bộ phim còn dang dở. Không phải ngẫu nhiên mà Viện Phim ảnh Hoa Kỳ (American Film Institute) từng xếp vua hề Charlot vào danh sách 10 huyền thoại điện ảnh sáng chói nhất mọi thời đại. Nhưng bên cạnh việc đạo diễn và đóng phim, Charlie Chaplin còn có cái tài soạn nhạc, phần lớn là do hoàn cảnh buộc ông phải trau dồi tay nghề nhiều hơn là một tài nghệ bẩm sinh thiên phú. 

Thành danh ban đầu nhờ các bộ phim câm, Charlie Chaplin ngoài công việc chỉ đạo và diễn xuất còn phải sáng tác nhạc nền minh họa cho hầu hết những hình ảnh được chiếu trên màn ảnh lớn. Sau khi các tác phẩm điện ảnh gặt hái thành công, thì lúc đó các giai điệu chủ đề của các bộ phim mới được đặt thêm ca từ. Đó là trường hợp tiêu biểu của Weeping Willows, Mandolin Serenade và Now That It's Ended trong bộ phim A King In New York, Falling Star (phim The Great Dictator), You Are The Song (phim The Gentleman Tramp), Beautiful, Wonderful Eyes (phim City Lights), Sing A Song (phim Gold Rush),... 

 Smile - Nat King Cole - Ca khúc chủ đề của MODERN TIMES
Trên danh sách này, có hai bản nhạc rất quen thuộc và từng được chuyển dịch nhiều lần nhất vẫn là Smile, nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Modern Times, từng ăn khách qua tiếng hát của Nat King Cole và ca khúc Eternally của tác phẩm điện ảnh Limelight. Còn bài This is my song (trích từ phim A Countess from Hong Kong) giúp cho Petula Clarck chiếm hạng nhất thị trường Anh, hạng ba thị trường Hoa Kỳ. 

Limelight trong tiếng Anh, Les Feux de la Rampe trong tiếng Pháp, Candelijas trong tiếng Tây Ban Nha, tác phẩm này là bộ phim cuối cùng mà Charlie Chaplin đã thực hiện tại Hoa Kỳ, trước khi ông bắt đầu cuộc sống lưu vong tại Thụy Sĩ. Về nội dung, Limelight kể lại câu chuyện của một nghệ sĩ hài (Calvero), đã đến tuổi về già, đáng lẽ ra ông phải giã từ sàn diễn nhưng rốt cuộc vẫn còn lưu luyến ánh đèn sân khấu. 

Calvero làm quen với một diễn viên múa ballet (Theresa Ambrouse, gọi thân mật là Terry), một thiếu nữ còn non tuổi đời, chưa vững tay nghề. Sự dìu dắt, nâng đỡ của người nghệ sĩ già cũng như tấm lòng nhân hậu của ông sẽ giúp cho tài năng của cô gái trẻ có cơ hội tỏa sáng. Vào đoạn cuối bộ phim, ngọn lửa thiêng do Calvero truyền nối, giúp cho Terry, tựa như thiên nga, chấp cánh bay cao. Sự thành công rực rỡ trên sân khấu của cô gái ở độ tuổi xuân xanh, cũng là lúc mà trong hậu trường, người nghệ sĩ bạc phơ tóc cước trút bỏ hơi thở cuối cùng. 


Chính ở trong cái đoạn cuối này, mà khúc nhạc chủ đề bộ phim lại trỗi lên, mang ý nghĩa biểu tượng của sự chuyển giao tiếp nối. Charlie Chaplin đặt tựa ban đầu cho khúc nhạc này là Terry’s Theme (Giai điệu của Terry). Đến khi hai tác giả người Anh Geoff Parsons và John Turner đặt thêm ca từ, thì lúc đó bản nhạc mới có tựa đề là Eternally (Muôn thuở). Với thời gian tầm vóc của bộ phim trở nên lớn đến nỗi nhiều người gọi đó là bài Limelight, khi mà bộ phim và ca khúc chủ đề không còn được phân biệt. 

Một khi bộ phim thành công, ca khúc chủ đề đã được chuyển dịch sang nhiều thứ tiếng. Riêng trong tiếng việt bài này có ít nhất là 4 lời khác nhau. Người đầu tiên đặt lời Việt cho bài này không phải là nhạc sĩ Phạm Duy mà lại là tác giả Nguyễn Xuân Mỹ dưới tựa Ánh đèn màu. Sau đó đến phiên hai tác giả Nguyễn Huy Hiển và Anh Hoa (Tình Tôi) cũng có cảm hứng đặt lời Việt cho bản nhac này. Về phần mình, tác giả Phạm Duy đặt hai lời khác nhau cho cùng một giai điệu: Ánh đèn sân khấu và Đời Ca nhi. 

Đằng sau tác phẩm Limelight, có khá nhiều giai thoại ly kỳ, tình tiết hấp dẫn. Khi bắt tay thực hiện cuộn phim, Charlie Chaplin lúc đó đã ngoài 60 tuổi, linh tính là có nhiều chuyện không may sắp đến trong đời ông. Vào cái thời của chủ nghĩa chống cộng McCarthy tại Hoa Kỳ, Charlie Chaplin do có khuynh hướng thiên tả bị nhiều thành phần trong dư luận ghét bỏ, bị chụp mũ là có những hoạt động đi ngược lại với quyền lợi của nước Mỹ. 

Khi được biết là Charlie Chaplin lên đường sang Anh Quốc để giới thiệu cuộn phim Limelight, giám đốc cơ quan FBI J. Edgar Hoover mới dùng tầm ảnh hưởng của mình, trực tiếp gọi điện cho Sở di trú để không cấp cho Charlie Chaplin quyền nhập cảnh trở lại Hoa Kỳ. Nhiếp ảnh gia nổi tiếng Richard Avedon là người chụp bức ảnh chân dung cuối cùng của Charlie Chaplin, có kể lại lần gặp mặt này trong quyển hồi ký của mình. 

Một lần đi nhưng không biết bao giờ mới trở lại: kể từ năm 1953 trở đi, Charlie Chaplin cùng với gia đình chọn Thụy Sĩ làm nơi định cư cuối cùng. Ông sẽ tiếp tục quay phim: A King in New York vào năm 1957, và tác phẩm cuối cùng là A Countess from Hong Kong với cặp diễn viên Sophia Loren & Marlon Brandon trong vai chính. Nhưng hai tác phẩm này đều cho thấy là thời của Charlie Chaplin đã qua. 

Chính cũng vì thế mà bộ phim Limelight không được trình chiếu rộng rãi vào năm 1952. Mãi đến 20 năm sau, ông mới đặt chân trở lại trên đất Mỹ nhưng chỉ để tham dự lễ trao giải Oscar. Ông nhận được một giải thưởng dành cho nhạc phim Limelight và đó cũng là giải Oscar duy nhất có đề cử và bình chọn. Hai giải Oscar khác chủ yếu là giải danh dự nhằm khen tặng thành tựu sự nghiệp của Charlie Chaplin. Đó là cái bối cảnh. 

Còn về mặt nội dung, thì Limelight khiến cho nhiều người xem bồi hồi xúc động vì nó giống như một bản di chúc, một bức tâm thư của người nghệ sĩ nhìn lại những bước thăng trầm trong sự nghiệp và cuộc đời. Cho dù trong quyển hồi ký My Life in Pictures (Đời tôi qua phim ảnh, xuất bản năm 1974), Charlie Chaplin cho biết là ý tưởng viết kịch bản phim Limelight dựa vào cuộc đời của nghệ sĩ Frank Tierney, nhưng tất cả các nhà phê bình đều cho rằng Charlie Chaplin đã đưa rất nhiều chi tiết trong cuộc đời mình vào trong cuộn phim. 

Theo đó, không phải ngẫu nhiên mà câu chuyện của Limelight diễn ra vào những năm 1913-1914 ở Luân Đôn. Đó là thời điểm mà Charlie Chaplin rời nước Anh sang Mỹ khởi đầu sự nghiệp điện ảnh với hãng phim Keystone. Limelight cũng là lúc Charlie Chaplin nói câu giã từ với nhân vật Charlot, vai nghệ sĩ hài Calvero trong phim, có nhiều nét giống với Charlot từ tướng mạo, y phục, cho đến trang điểm. 


Bộ phim Limelight (Ánh đèn Sân khấu) cũng là một cách để cho nhà đạo diễn khép lại quyển sách của một thời đã qua, vì trong phim không chỉ có một mà lại có đến hai vua hề: Charlie Chaplin và Buster Keaton đều nổi danh trong thời kỳ hoàng kim của phim câm. Charlie Chaplin trong vai Charlot lúc nào cũng lạc quan yêu đời, còn Buster Keaton thì không bao giờ nở một nụ cười trên màn ảnh. 

Báo chí thường nhắc đến sự cạnh tranh đối đầu giữa hai vua hề nổi danh hầu như cùng một thời, nhưng lại chóng quên rằng họ mến phục lẫn nhau. Tác phẩm Limelight ban đầu không có vai dành cho Buster Keaton, nhưng Charlie Chaplin đã viết hẳn một vai dành riêng cho đồng nghiệp, bởi vì vào đầu những năm 1950, diễn viên Buster Keaton bị sạt nghiệp, gia đình không còn, tài sản tiêu tan. 

Nét đột phá của tác phẩm Limelight là trong một bộ phim có đối thoại, đạo diễn Charlie Chaplin đã khôi phục thời đại phim câm khi mà hai vua hề song diễn. Kẻ tung người hứng, một bên chơi vĩ cầm, bên kia đánh dương cầm, Cảnh quay không hề được viết trong kịch bản mà chỉ do hai vua hề biến tấu qua động tác, cử chỉ thành một màn phim để đời. 

Ở trong những giây phút cuối cùng của bộ phim Limelight, Charlie Chaplin dựng cái chết của chính mình trên màn ảnh lớn, y hệt như khát vọng của biết bao nghệ sĩ, với cuộc đời dù năm chìm bảy nổi, nhưng đam mê ánh đèn màu đã ăn sâu vào thịt da xương tủy, tâm huyết nghiệp diễn một mạch tuôn chảy đến tận cùng huyết quản. 

Read more ...

Bella Italia


Your Love (fr. Once Upon A Time In The West)
Music: Ennio Morricone
Performer: Desire Capaldo

Read more ...

Trích đoạn phát biểu của Steve Jobs tại Đại học Stanford (2005)

"Luôn ghi nhớ rằng mình sẽ không sống được lâu nữa là ý nghĩ quan trọng nhất giúp tôi đưa ra những lựa chọn lớn trong cuộc đời. Bởi vì hầu hết tất cả mọi thứ - tất cả những kỳ vọng bề ngoài, tất cả niềm tự hào, mọi nỗi lo sợ về sự lúng túng hay thất bại - đều sẽ tan biến trước cái chết, và chỉ những gì thực sự quan trọng sẽ còn ở lại.

Việc ghi nhớ rằng mình rồi sẽ chết là cách tốt nhất mà tôi biết để tránh cái bẫy của suy nghĩ cho rằng mình có thứ gì đó để mất… Một khi đã trắng tay, thì chẳng có lý do gì để không nghe theo tiếng gọi của trái tim mình.

Thời gian của đời người là hữu hạn, bởi thế đừng lãng phí nó bằng cách sống cuộc sống của một người nào đó không phải là chính mình. Đừng mắc kẹt trong những lời giáo lý, vì đó là cách sống với kết quả từ suy nghĩ của người khác. Đừng để âm thanh của những ý kiến khác lấn át đi tiếng nói bên trong của chính mình".

Nguồn: Vneconomy


 

Read more ...

Phân biệt một số định dạng âm thanh

1. Âm thanh số là gì?
 
Âm thanh được ghi trên đĩa CD và định dạng file âm thanh WAV được sử dụng chuẩn định dạng pulse-code modulation (PCM) (tạm dịch là điều biến nhịp, nghĩa là trong analog ta thấy một tần số sine diễn tả âm thanh, nhưng trong kĩ thuật số ta không thể có sóng sine mà người ta sử dụng những "nhịp đập" cao thấp khác nhau một cách liên tục để diễn tả gần đúng nhất hình dạng sóng sine"). Đây là những tín hiệu âm thanh gốc và hoàn toàn không được nén.

Theo chuẩn PCM,
mỗi giây âm thanh được lấy mẫu với tần số lấy mẫu 44.1KHz, và mỗi mẫu được diễn tả bởi 16 bit dữ liệu. Có nghĩa là trong 1 phút nhạc/âm thanh ta có:
44.100 đợt lấy mẫu .2 kênh trái phải .2 bytes (16 bit = 2 bytes) .60 giây = 10.584.000 bytes = 10.1 MB


Như ta đã biết, một CD thường có dung lượng là 750Mb, hoặc lưu được 74 phút nhạc, vì thế nếu bạn nhân con số 10MB của mỗi phút nhạc cho 74 bạn sẽ thấy rõ tại sao CD nó lại như vậy.

Vậy tóm lại, 1 giây của âm thanh gốc sẽ có bitrate là
1411kbps.

2. Định dạng âm thanh phổ biến


(a) Lossy compression (Nén, bị mất dữ liệu): mp3, wma, ...

Với sự phát triển của PC và internet, nhu cầu chia sẻ thông tin và nhạc càng ngày càng được đòi hỏi cao. Nhưng thật bất tiện khi gửi cả album nhạc đến 700MB qua internet với tốc độ èo uột 56kps thời đấy được. Do đó các nhóm nghiên cứu, các tổ chức và nhiều công ty khác nhau đã cố gắng tìm ra những định dạng âm thanh mới sử dụng những thuật toán riêng để nhằm giảm bớt dung lượng dữ liệu cần đề diễn tả âm thanh gốc, cùng lúc đó cố gắng giữ cho âm thanh gần với âm thanh gốc nhất.

Có rất nhiều định dạng khác nhau đã ra đời như
mp3, wma, aac, ogg, mpc, atrac, ... Chúng hoạt động gần giống nhau nhưng mỗi định dạng có một thuật toán khác nhau để xác định xem giữ lại mẫu âm thanh nào, bỏ mẫu âm thanh nào, hoặc điều chỉnh mẫu âm thanh thế nào.

Thế thì tại sao lại có thể bỏ, hoặc giữ lại? Vì theo lí thuyết, tai con người sẽ rất khó nhận ra sự hiện diện của một tần số âm thanh nhất định nào đó (có thể là quá
20Khz). Việc bỏ đi
một phần dữ liệu âm thanh này giúp cho các định dạng âm thanh mất dữ liệu như mp3 có thể giảm dữ liệu cần thiết để diễn tả một lần lấy mẫu (sẽ ít hơn rất nhiều so với 16bit cho 44.100 lần một giây như của âm thanh gốc).

Ngoài ra các định dạng âm thanh này còn tạo ra những âm thanh giả nhằm đắp vào những phần nó đã loại bỏ, điều này là thực sự không thể chấp nhận được. Nó tạo ra những âm thanh ta hay gọi là "eo éo" hoặc vang hoặc méo hẳn so với âm chuẩn. Những file được nén với bitrate càng thấp thì hiện tượng này xảy ra càng nhiều: ví dụ điển hình nhất là khi bạn hãy nghe thử một đoạn khán giả vỗ tay trong một file mp3 và một track trong CD gốc hoặc một file nén không mất dữ liệu (lossless) sẽ ngay lập tức nhận ra. Vì sao tiếng vỗ tay lại gây ra nhiều vấn đề như vậy? Bởi vì tiếng vỗ tay là âm thanh hỗn hợp ngẫu nhiên, nếu trong âm thanh chuẩn gốc nó sẽ được diễn tả đầy đủ, thế nhưng với âm thanh nén, định dạng nén buộc phải "ép" bitrate của mình vào khoảng cho phép do đó nó tạo ra những âm thanh vỗ tay đều đều nhau rất ít sự khác biệt hoặc bị hiệu ứng vang.

Chúng ta thường thấy rằng
mp3 hay được nén với bitrate là 128, 192, hoặc 320 kilobit/1 giây (kbps) . Bạn có thể nhận thấy rằng nó chỉ bằng 1/10 so với bitrate của WAV (1411kbps) đó là lí do tại sao 1 phút nhạc MP3 128kbps chỉ tốn khoảng 1MB.

Đúng là trong 1 số trường hợp nhất định, hoặc 1 dạng âm thanh/nhạc nào đó, sẽ rất khó phân biệt sự khác nhau giữa âm thanh gốc và MP3. Bên cạnh đó các thuật toán nén của các định nhạc mất dữ liệu đã được cải thiện rất nhiều. Thế nhưng không có gì hoàn hảo, và chắc chắn cái gì đã mất đi thì sẽ làm cho nó hỏng đi. Đặc biệt là âm thanh. Đối với những album nhạc như vocal, nhạc cụ, hay đặc biệt là cổ điển thì đây là 1 tai họa, vì với những album nhạc này, thường những nhạc cụ được sử dụng hoặc giọng hát có tần số âm thanh rất cao hay rất trầm do đó rất nhiều dự liệu đã bị loại bỏ hoặc điều chỉnh khác đi so với thực tế.

MP3, âm thanh nén, nhiều người cho rằng chỉ thích hợp với nhạc pop hoặc các dạng nhạc bình thường khác.

(b) Lossless Compression (Nén, không mất dữ liệu)

 
Trong công việc hàng ngày với máy tính, hẳn không ít lần bạn đã nén một file tài liệu gửi cho đồng nghiệp. Có thể bạn đã sử dụng Zip hoặc Rar làm định dạng nén.

File tài liệu được bạn nén sau khi qua Zip hoặc Rar sẽ trở nên nhỏ hơn rất nhiều nhưng khi người nhận nhận được file, họ sẽ giải nén và có được file tài liệu gốc mà bạn đã tạo. Vậy Zip và Rar đã làm gì? Nói đơn giản, đó là những thuật toán nhằm tìm ra những quy luật lặp của dữ liệu từ đó, tìm một cách hiển thị khác tối ưu hơn, tốn ít dữ liệu hơn. Ví dụ ta có chuỗi: aaaaa bbbbbbb aaa 11111, bạn thấy rằng cách diễn giải tốt hơn nhiều mà tốn ít chữ hơn là a.5 b.7 a.3 1.5. Đấy là một ví dụ rất đơn giản để bạn hiểu, còn thì nó phức tạp hơn rất nhiều.

Như vậy khi người nhận nhận file và giải nén, Zip và Rar đóng nhiệm vụ sử dụng những chuỗi dữ liệu nén đó tập hợp và tạo lại file gốc ban đầu.

Đó cũng là mục đích của định dạng âm thanh nén không mất dữ liệu (lossess). Với cấu trúc trên của zip hoặc rar thì bạn có thể thấy rõ rằng đối với lossless audio, nó lấy đầu vào là âm thanh gốc của CD, cố gắng tìm ra những quy luật âm thanh và nén nó lại. Việc nén lại này là không cao vì dữ liệu âm thanh rất đa dạng và sử dụng nhiều dữ liệu. Hiện tại mức độ nén cao nhất có thể của kĩ thuật nén không mất dữ liệu là bằng khoảng 1/3 dung lượng của âm thanh gốc. Do đó mỗi album lossless sẽ có dung lượng khoảng 200 đến 300 Mb.

Khi giải nén hoặc khi nghe lossless điều chắc chắn ta đạt được đó chính là tín hiệu gốc của âm thanh
CD (44.1Khz, 16bit, 1411Kbps). Điều này là cứu nhân cho mọi người yêu âm nhạc luôn đòi hỏi âm thanh trung thực nhưng không có điều kiện có CD gốc hoặc muốn sử dụng máy tính làm nơi lưu trữ albums.

- Hoạt động của việc ghi CD nhạc:
 
Như đã đề cập, định dạng âm thanh của CD là
PCM 1411kbps và đầu vào của nó cũng phải ở định dạng PCM 1411kbps. Do đó khi ta ghi một CD nhạc, việc đầu tiên của một chương trình ghi đĩa là nó phải convert (chuyển) bất kì định dạng đầu vào nào ra WAV, bất kể nó là mp3 hay ape, lossy hay lossless. Đó là lí do vì sao mà ngoài mp3 thường được hỗ trợ sẵn, đối với các định dạng âm thanh khác ta phải cần plugin cho trình ghi đĩa mới có thể ghi được.

Như thế bất kì định dạng nhập vào là gì trước khi ghi ra đĩa ta sẽ có một dữ liệu âm thanh định dạng WAV, mà WAV thì luôn là PCM 1411kbps. Cho nên dù dữ liệu vào "xấu" hay "đẹp" nó cũng sẽ được cho mặc
một cái áo được dệt bởi 1411 kí sợi để ghi ra CD. Tại sao cùng một album, ta có hai định dạng mp3 và ape, mp3 chỉ 50MB, ape đến 200MB mà ghi ra đĩa vẫn đầy, vẫn cùng ngần đấy phút nhạc? Đã có câu trả lời tại sao.

- Hoạt động của việc nén CD nhạc:
 
Như vậy sau khi ghi ra CD một rổ dữ liệu "xấu" đấy, nếu bạn sử dụng nó để đọc trong máy sẽ vẫn thấy rằng bitrate của nó là 1411kbps. Tiếp theo nếu bạn sử dụng phần mềm để rip CD (trích xuất CD thành từng track) này và xác định bitrate là 320 hay cao hơn đi nữa thì nó sẽ vẫn thực hiện công việc nén 1411kbps dữ liệu "xấu" đấy trở thành 320. Nhưng cũng phải nói thêm rằng dù nén 320kbps nhưng dữ liệu "xấu" của bạn sẽ càng trở nến xấu hơn vì chính trong lúc nén ở 320kbps, nó sẽ tiếp tục bị mất tiếp dữ liệu. Đã xấu lại càng xấu .

Vậy theo lí thuyết ở phần trước, để giữ nguyên độ "xấu" gốc bạn chỉ có cách nén ở định dạng lossless không mất dữ liệu ... "xấu".

Phần lớn, hay ko muốn nói là tất cả những đĩa nhạc copy (cả nhạc Việt lẫn nhạc ngoại) mà ta thấy ngoài tiệm đều là ghi ra đĩa với nguồn là MP3 trong máy tính. Bạn có rip với bất kì định dạng nào thì chất lượng vẫn là hàng phế phẩm, không nói gì chất lượng CD, mà chất lượng âm thanh không thể nào bằng đĩa gốc.

Vậy với lossless nó sẽ thế nào? Cũng vẫn thế, nhưng khi APE được trình ghi đĩa giải nén ra WAV ta sẽ có lại dữ liệu đẹp ban đầu ở 1411kbps, tạo ra 1 đĩa CD chuẩn ở 1411kbps, rồi ta lại rip lossless, rồi lại ghi ra. Cho dù bao nhiêu lần đi nữa thì dữ liệu vẫn (có thể) được giữ nguyên. Nói có thể là vì nó còn phụ thuộc nhiều vào chất lượng CD, chất lượng đầu đọc, hai thứ đó có đảm bảo được cho sự an toàn, hoàn chỉnh của dữ liệu khi ghi và đọc hay không. Vì thế mà người ta luôn nói là với CD thì phải là TDK, ổ đĩa thì phải là Plextor, hơn nữa khi ghi hay đọc thì chỉ ở tốc độ 1x , như thế mới giảm thiểu tối đa số lỗi đọc ghi.

Công nghệ ghi đĩa và loại đĩa được sử dụng là rất quan trọng do đó đĩa hiệu mới đắt như vậy. Ngoài ra còn có đủ loại đĩa dành cho dân audiophile như đĩa vàng, đĩa thủy tinh. Công nghệ thì có
XRCD, DCC, Chesky, MFSL ,... rất rất nhiều. Sự khác nhau của họ là cách thức xử lý tín hiệu gốc đạt đến độ hoàn chỉnh, sau đó sử dụng công nghệ máy móc được phát triển riêng để ghi lên đĩa đặc hiệu, máy ghi đĩa luôn đảm bảo rằng không có lỗi xảy ra, dữ liệu không bị nhiễu và khi ghi lên bề mặt đĩa đạt hiệu quả tối ưu.

 - Nén nhạc với định dạng Lossless:

Hiện tại có hai định dạng nhạc nén lossless phổ biến nhất là FLACAPE. Để trích xuất nhạc từ đĩa CD hoặc chuyển đổi định dạng nhạc sang FLAC hoặc APE bạn có thể sử dụng những phần mềm sau:
  • Exact Audio Copy (EAC): phần mềm tiêu chuẩn để rip nhạc. EAC là phần mềm tốt nhất để đảm bảo chất lượng nhạc chép vào là giống với CD nhất. 
  • Foobar2000: Chương trình chơi nhạc nén lossless hay nhất hiện tại. Bạn cũng có thể sử dụng chương trình để chuyển đổi định dạng hay rip từ CD. (Đối với định dạng FLAC, bạn cần download thêm tiện ích từ trang chủ của chương trình).
  • Monkey Audio Compressor: mẹ của APE. Dữ liệu chép vào chuẩn sẽ là WAV (như CD) sau đó MAC được gọi để nén lại thành APE.
(*) Kinh nghiệm cá nhân:
  • Nếu bạn không bị giới hạn về khả năng lưu trữ có thể sử dụng định dạng WAV. WAV được hỗ trợ bởi hầu hết các thiết bị âm thanh, tuy vậy không có khả năng lưu trữ thông tin như FLAC vâ APE (như tên bài hát, tác giả, album, ảnh...). Một file WAV có dung lượng khoảng gấp đôi một file FLAC/APE.
  • FLAC được hỗ trợ trong các thiết bị âm thanh phổ biến hơn APE. Nếu rip hoặc chuyển đổi file nhạc bạn nên chọn chế độ nén của FLAC thấp nhất, nhờ đó quá trình chuyển đổi sẽ diễn ra nhanh hơn (file nén FLAC ở chế độ cao nhất cho dung lượng file nhỏ không đáng kể đồng thời quá trình đọc file (ví dụ bởi foobar2000 sẽ mất thời gian hơn)). 
  • Nên lưu trữ toàn bộ kho nhạc của bạn dưới dạng lossless vào máy tính do đĩa CD có thể bị mất hoặc hỏng. Xu hướng âm nhạc tiếp theo sẽ lưu trữ số hóa hoàn toàn. Nếu lưu bằng FLAC, toàn bộ thông tin trên đĩa sẽ được lưu lại vào các tracks. Muốn chuyển đổi sang định dạng khác hoặc ghi ra đĩa sẽ rất dễ dàng. Với các thiết bị đầu đọc home cinema hỗ trợ USB, stream từ máy tính... thì việc quản lý và nghe nhạc với chất lượng cao sẽ tiện dụng hơn nhiều.  
Sưu tầm và bổ sung.

Read more ...

Phim Hereafter: gọi hồn kẻ chết để an ủi người sống

Tuấn Thảo
 Bộ phim "Hereafter" có tựa tiếng Pháp là "Au Delà" (Bên kia thế giới) DR
Đạo diễn Clint Eastwood thuộc vào hàng kỳ cựu của làng điện ảnh quốc tế. Trong số hơn 30 bộ phim mà ông đã quay, tác phẩm sau không hề giống tác phẩm trước. Lần này với bộ phim Hereafter (Bên kia thế giới), ông dẫn dắt người xem vào cõi huyền bí tâm linh, gọi hồn người đã khuất để giải tỏa nỗi dằn vặt ray rứt của kẻ còn sống.

Nội dung bộ phim Hereafter không đơn thuần kể một câu chuyện mà lại kết nối đến ba câu chuyện khác nhau. Về mặt cấu trúc, có thể gọi đây là một tác phẩm hợp xướng, cộng hưởng nhiều nhân vật và tình huống khác biệt. Trong thể loại này, các bậc thầy vẫn là Robert Altman và Woody Allen. Còn dưới ống kính của đạo diễn Clint Eastwood, bộ phim Bên kia thế giới đan xen và lồng ghép ba mảnh đời ở ba phương trời cách biệt (Pháp, Mỹ và Anh) để rồi ở đoạn cuối, hội tụ về cùng một nơi.
Nhân vật đầu tiên mở đầu bộ phim là cô Marie Lelay (do Cécile de France thủ vai), một phóng viên nổi tiếng của đài truyền hình Pháp. Cùng với người bạn trai, cô đi du lịch ở Thái Lan, vào thời điểm xẩy ra cơn sóng thần. Từ căn phòng khách sạn ven biển, người ta thấy mực nước đột ngột rút lui, để rồi dâng cao lên cả chục thước, đổ ập vào đất liền. Trận sóng thần mãnh liệt dữ dội bứng gốc các cột đèn điện, quét sạch phiên chợ làng, cuốn trôi xe cộ nhà cửa. Trong cảnh hoảng loạn, Marie tháo chạy không kịp nên bị nhấn chìm dưới nước. Cô tắt thở chết đuối trong vài phút, trước mắt bỗng hiện ra nhiều bóng người chập chờn trong đường hầm ánh sáng.

Trạng thái cận tử: người chưa tới số
Tuy được người khác làm hô hấp nhân tạo nhưng Marie vẫn không sống dậy. Đến khi toán cấp cứu tưởng chừng cô đã chết, quay lưng bỏ đi cứu giúp người khác, thì Marie mới ọc nước bừng tĩnh. Trời kêu ai nấy dạ. Nói theo người Việt, thì Marie đáng lẽ ra phải chết nhưng rốt cuộc vẫn chưa tới số. Còn nói theo người Âu Mỹ, thì cô đã trải qua trạng thái cận tử (Near Death Experience), một con người phàm trần về từ cõi chết.

Tuy bình an vô sự và được trở về Paris, nhưng tâm tính của Marie bỗng nhiên khác hẳn. Trong lúc làm việc, cô bỗng nhiên hoang mang thất thần như thể hồn vẫn chưa về xác. Bạn trai của cô khuyên Marie nên nghỉ ngơi dưỡng sức, tận dụng thời gian rảnh rỗi để viết sách, vì cho dù cơ thể lành lặn nhưng tâm hồn có thể bị chấn thương. Tưởng lầm rằng cô được nghỉ vài tuần để tĩnh dưỡng, nào ngờ Marie lại bị cho thôi việc nghỉ luôn. Nhưng kể từ khi cô trở về từ thế giới bên kia, sự nghiệp và danh vọng không còn là điều quan trọng.



Nhân vật chính thứ hai trong phim là George Lonegan (do Matt Damon đóng vai), một công nhân bốc hàng làm việc tại bến cảng San Francisco, Hoa Kỳ. Thời niên thiếu, anh bị chứng viêm não nên buộc phải giải phẫu. Căn bệnh nan y khó giải, nên anh phải nằm trên giường mổ hàng tiếng đồng hồ. Sau nhiều ngày hôn mê bất tỉnh, George dần dần hồi phục sức khỏe. Tưởng rằng mọi chuyện đã bình thường, đâu ngờ bệnh viêm não lại biến chứng. Cậu thanh niên bị mất ngủ và nhức đầu kinh niên.
 Mỗi khi phải thức trắng, George chỉ tìm thấy sự an ủi khi nằm yên trên giường, nghe đọc sách qua audio book, chủ yếu là các tác phẩm của nhà văn Charles Dickens. Nhưng trong số các biến chứng, lạ lùng hơn cả là anh có giác quan ngoại cảm: George không nhìn thấu quá khứ hay tương lai, mà lại có thể giao tiếp trò chuyện với linh hồn của người đã khuất. Cứ mỗi lần anh đụng chạm hay nắm tay người khác, là thân nhân quá cố của họ bỗng hiện về, nói cho anh nghe tất cả những điều bí ẩn, che giấu hay chôn kín ở trong lòng, mà chỉ có những người trong cuộc mới biết được.

Nói chuyện với người chết: vận may hay tai họa? Đối với người thường, cái giác quan thứ sáu này có thể là một vận may, nhưng đối với George, thì nó chẳng khác gì một tai họa. Trong đời, anh đã nhiều lần giúp đỡ người còn sống nhắn nhủ tâm tình với người đã khuất. Nhưng cũng như anh nói: sống mà chỉ để nói chuyện người chết thì đâu phải là một cuộc sống thực thụ. Có lẽ cũng vì thế mà George chọn nghề bốc hàng thay vì kiếm tiền nhờ thuật gọi hồn. Cho dù được người anh trai vỗ về dỗ ngọt, nhưng George nhất quyết không muốn khai thác khả năng của mình để trục lợi. Đoạn tuyệt với quá khứ, George khăn gói lên đường rời nước Mỹ sang Anh.

Chính tại Anh Quốc, mà người xem mới khám phá câu chuyện thứ ba. Nhân vật chính là Marcus, một cậu bé 10 tuổi (do George McLaren đóng vai). Marcus sống cùng với người anh sinh đôi tên là Jason ở một khu phố nghèo. Cả hai đứa bé chẳng những mồ côi cha mà còn bị người mẹ bỏ bê, vì chứng nghiện rượu và ma túy. Tuy giống nhau như đúc, nhưng hai đứa bé lại có tánh tình rất khác biệt: thằng em càng nhút nhát rụt rè bao nhiêu, thì thằng anh càng lanh lợi tháo vát bấy nhiêu.

 
Một ngày kia, nhân viên trợ tá xã hội đến nhà gỏ cửa đòi bắt hai đứa nhỏ, đem giao cho người khác nuôi. Thằng anh mới lập mưu bày kế giúp mẹ và em trai thoát khỏi tình huống rủi ro. Chạnh lòng ân hận, bà mẹ thương con mới quyết định mua thuốc cai nghiện. Bà đưa tiền cho Marcus, bảo thằng em chạy ra phố mua thuốc tây về cho mẹ, nhưng rốt cuộc thằng anh lại đòi đi. Đến khi rời khỏi nhà, Jason bị một lũ du côn chặn đường ăn hiếp, thằng anh hoảng sợ băng qua đường tháo chạy, rủi thay lại bị xe cán nên chết ngay tại chỗ.

Kẻ khuất hộ mạng người sống
Sau tai nạn, người mẹ được đưa vào trung tâm cai nghiện. Marcus thì tạm thời được một gia đình khác nhận về nuôi. Thằng bé trở nên lầm lì ít nói, mỗi đêm trước khi đi ngủ lại nói chuyện một mình như thể anh trai vẫn còn sống và nằm trên giường bên cạnh. Sau đám tang, Marcus giữ lại làm kỷ vật cái nón lưỡi trai của Jason. Thằng bé bỏ nhà đi lang thang không phải để chơi bời phá phách mà lại đi tìm thầy bói để giúp nó liên lạc với người anh đã chết. Có một lần, nó vào trạm xe điện ngầm. Giờ cao điểm đông người nên hành khách chen lấn xô đẩy nhau, hất xuống đất cái nón lưỡi trai của thằng nhỏ. Vì đi tìm cái nón mà Marcus trễ mất một chuyến xe, nhưng cũng vì thế mà thoát chết trong đường tơ kẻ tóc vì chuyến xe thình lình phát nổ do bị cài bom, làm nhiều hành khách thiệt mạng.

Phải chăng do duyên kiếp tiền định mà cả ba nhân vật mà thoạt nhìn chẳng có liên hệ gì với nhau lại gặp mặt nhân kỳ hội chợ sách tại Luân Đôn. Trong lúc ký tặng quyển tự truyện, Marie chạm vào bàn tay của George nên anh biết ngay rằng cô đã từng chết đi rồi sống lại. Thằng bé Marcus lang thang giữa các gian hàng sách chợt nhận ra George là người có tài nói chuyện với người chết. Bởi vì nó đã từng thấy chân dung của anh trên mạng internet. Dù bị George xua đuổi cách mấy, nhưng thằng nhỏ vẫn nhất quyết chạy theo anh. Sau khi thấy Marcus đứng chờ trước khách sạn mấy tiếng đồng hồ, George mới xiêu lòng giúp đỡ vì tội nghiệp cho thằng bé.

Lúc đó, Marcus mới biết rằng người anh sinh đôi đã khuất vẫn che chở phù hộ cho mình. Nhờ vong linh của người quá cố, mà chiếc nón lưỡi trai bị rớt xuống đất, và như vậy Marcus thoát chết trong vụ khủng bố xe điện ngầm. Đó là lần duy nhất nhưng cũng là lần cuối cùng hai anh em sinh đôi trò chuyện với nhau. Để tỏ lòng tri ân, thằng bé Marcus mới mách với George là cô Marie đang ở chỗ nào. Dù chỉ gặp mặt có một lần nhưng anh linh cảm là giữa hai người có một sợi dây vô hình nào đó gắn liền hai định mệnh. Trong đoạn cuối, dù khán giả không phải là tiên tri hay thầy bói nhưng họ cũng có thể đoán trước bộ phim kết thúc có hậu đến chừng nào.

Kịch bản: thắt nút chậm, tháo gỡ nhanh
Bộ phim Hereafter là tác phẩm thứ 31 của đạo diễn Clint Eastwood. Có thể xem đây là dấu gạch nối giữa cuộn phim Sixth Sense (Giác quan thứ 6) của Night Shyamalan và Tháp Babel của đạo diễn Alejandro González Inárritu. Một bộ phim huyền bí tâm linh nhưng không ma quái kinh dị, một câu chuyện đa tầng nhiều lớp nhưng vẫn không trái ngược chồng chéo. Về mặt diễn xuất, hầu hết các tài tử Hollywood nên học hỏi cách đóng phim của Michael Caine trong bộ phim mang tựa đề Harry Brown. Còn về thủ pháp điện ảnh, các nhà đạo diễn trẻ nên học hỏi từ đạo diễn Clint Eastwood, vì cách quay phim của ông xứng đáng được xếp vào hạng thượng thừa. Hollywood đã từng quay nhiều bộ phim nói về thiên tai và ngày tận thế, nhưng không có phim nào sánh bằng cái cảnh sóng thần mở đầu bộ phim Hereafter.

Chỉ trong vòng 8 phút, nhưng Clint Eastwood xen kẻ lối quay toàn cảnh, quay nửa thân rồi cận ảnh và nhất là thủ pháp "ống kính chủ quan", tức là quay từ góc nhìn của người trong cuộc. Có lẽ cũng vì thế mà khán giả thật sự có cảm tưởng ngụp chìm trong trận sóng thần. Trong ngôn ngữ điện ảnh, đạo diễn Clint Eastwood dùng hàm ý và tỉnh lược để rút ngắn những đoạn không cần thiết, nhưng bên cạnh đó ông dùng những chi tiết rất phụ để làm giàu câu chuyện, không có chiếc nón lưỡi trai thì làm sao mà Marcus thoát chết, không mê truyện của Charles Dickens, thì nhân vật George sẽ không đời nào đi Luân Đôn.

Tuy nhiên, trên ba phần, bộ phim Hereafter chỉ đạt có hai. Đoạn yếu nhất là đoạn nói về cô Marie, từ cách xây dựng tâm lý nhân vật cho đến việc tái tạo môi trường làm việc của phóng viên người Pháp. Trong phim, câu chuyện của ba nhân vật được phân đoạn một cách đồng đều. Nhưng thời lượng cân bằng dành cho mỗi nhân vật, lại tạo ra sự thiếu cân xứng về mặt trọng lượng vì ý nghĩa của mỗi câu chuyện không ngang tầm với nhau. Trong ba nhân vật, George có vẻ quan trọng hơn cả, anh không những là dấu gạch nối giữa cõi âm và cõi dương mà còn là người có thể giải đáp những khúc mắc của hai nhân vật kia.

Người đi lưu luyến cõi trần, kẻ ở ray rứt nội tâm
Không có giác quan thứ 6 của George, thì cậu bé Marcus sẽ không thể giao tiếp với người đã khuất, và cô Marie sẽ không thể nào trả lời cho câu hỏi: chết là dấu chấm hết hay lại là điểm khởi đầu cho một cuộc hành trình khác. Bên cạnh đó, nhịp điệu của bộ phim cũng bị mất cân đối. Nếu như trong phần đầu của bộ phim, đạo diễn Clint Eastwood dành khá nhiều thời gian để kể câu chuyện của ba nhân vật, thì trong đoạn cuối, mạch phim bỗng nhiên tăng tốc: tuy không lạc điệu nhưng vẫn bị lệch nhịp. Có thể nói là kịch bản được thắt nút chậm mà chặt, nhưng sau đó lại tháo gỡ hơi vội vàng nên không tránh khỏi vài chỗ vụng về.

Nhìn lại, Hereafter không phải là tác phẩm xuất sắc nhất của Clint Eastwood, nếu phải so sánh với các tác phẩm trước của ông là Gran Torino, Mystic River hay The Bridges of Madison County. Dưới lớp vỏ tâm linh huyền bí, cốt lõi của bộ phim nói về nỗi ám ảnh của những người sống sót nhiều hơn là về cái chết. Cậu bé Marcus đau buồn trước cái chết của người anh sinh đôi và chỉ cảm thấy nguôi ngoai khi được nghe lời nhắn nhủ của Jason. Cô Marie không hiểu vì sao mình thoát chết sau trận sóng thần, trong khi hàng trăm ngàn người đã bỏ mạng. Marie bị ám ảnh và chỉ cảm thấy bình an hơn trong tâm hồn khi viết sách làm chứng. Kinh nghiệm cận tử lại đem lại cho Marie một lẽ sống mới.

Còn nhân vật George cuối bộ phim có vẻ như an phận. Trước kia, anh bị dằn vặt ray rức do ở trong tư thế đối đầu, phủ nhận giác quan thứ sáu của mình. Một khi đã chấp nhận, lòng anh cảm thấy nhẹ nhõm hơn. Vì dù muốn hay không, suốt đời anh phải sống với cái tài gọi hồn, cái khả năng nói chuyện với vong linh người quá cố. Biết bao người đã khuất còn lưu luyến cõi trần, vì trăn trối chưa hết lời. Biết bao kẻ ở lại còn ấm ức nội tâm, vì khi muốn nhắn nhủ thương yêu thì đã quá muộn.

Read more ...

La Maritza (Sylvie Vartan)

Read more ...

Phim Harry Brown, một vai diễn bằng vàng

Tuấn ThảoMichael Caine từng đóng vai tương tự trong phim
Hận thù là một món ăn nguội, càng lạnh chừng nào, càng ngon chừng nấy. Thành ngữ của người Âu Mỹ rất thích hợp với bộ phim hình sự Harry Brown. Trong tác phẩm đầu tay, đạo diễn Daniel Barber đã tìm cách vạch trần thực tế cuộc sống vùng ngoại ô nghèo ở Anh và trao cho Michael Caine một vai diễn bằng vàng.


Trong phim, Michael Caine thủ vai Harry Brown, một ông lão bất cần đời đã ngoài 70 tuổi. Thời thanh niên, ông đã từng đi lính thủy quân lục chiến, tham gia vào cuộc xung đột ở miền bắc Ailen. Một khi về hưu, Harry coi như là đã an phận với cuộc sống đơn điệu tẻ nhạt. Con gái ông đã qua đời lúc còn trẻ. Vợ ông thì hấp hối chờ chết trên giường bệnh. Phim không nói rõ vợ ông bị bệnh gì, chỉ thấy bà nằm ở bệnh viện trong trạng thái hôn mê bất tỉnh. Người đàn ông già cô đơn mỗi ngày đi thăm vợ, cầm tay vuốt má người bạn đời cho dù ông không biết vợ mình có nghe được những lời vỗ về an ủi hay không. Đến ngày vợ ông qua đời, cuộc đời của Harry coi như là đã mất thêm một lẽ sống. 

Niềm vui duy nhất trong ngày là khi Harry gặp mặt người bạn già thân thiết tên là Len (cách gọi thân mật của nhân vật Leonard). Hai người sống cùng một xóm, họ thường rủ nhau đi uống bia, đánh cờ. Cuộc sống ở dãy phố ngoại ô chẳng có gì là yên bình, kể từ khi một băng đảng du côn nắm lấy quyền kiểm soát các lối đi, canh chừng các ngỏ ra vào. Từ căn hộ ngăn nắp của mình, Harry vẫn thường xuyên chứng kiến bọn lưu manh hành hung khách qua đường, các trò buôn ma túy trong đường hầm dành cho người bộ hành. Láng giềng hàng xóm đều sống trong nỗi sợ hãi, kể từ khi có vụ giết người vô cớ. Các tên đu đãng lái xe gắn máy, rồi nã súng bắn bừa vào người đi bộ. Một người phụ nữ dẫn con nhỏ đi dạo, vì thế mà chết một cách oan uổng.



Tuy biết vậy, nhưng cảnh sát chỉ can thiệp để lấy lệ. Khu phố nghèo trở thành lãnh thổ của băng đảng tội phạm, công lý tư pháp nhường chỗ lại cho luật rừng, cá lớn nuốt chửng cá bé, kẻ mạnh bắt nạt kẻ yếu. Cũng như bao người khác trong xóm, ông Harry vẫn mặc kệ làm ngơ, không muốn chuốc lấy tai họa vào thân. 

Cho đến một ngày kia, cảnh sát điều tra (nhân vật Frampton) đến nhà ông gõ cửa, báo cho Harry là Len người bạn thân của ông đã bị sát hại. Trước mặt nhân viên cảnh sát, Harry vẫn trầm tĩnh từ tốn, nhưng khi họ đi rồi, thì Harry lại vỡ òa nước mắt, một mình trong tiếng khóc. Sau vụ án mạng, cảnh sát bắt giữ tạm giam 4 nghi can, nhưng các cuộc thẩm vấn vẫn không đem lại kết quả. Do không có bằng chứng, nên rốt cuộc các tên lưu manh lại được thả về nhà. 

Hận thù trong tim, hung thần máu lạnh 
 
Nhân vật Harry chỉ thật sự quyết định trả thù, một mình ra tay thực thi công lý khi tính mạng của ông bị đe dọa trực tiếp. Vào một buổi tối, trên đường về nhà, ông bị kẻ lạ mặt dí dao vào cổ, hăm dọa đòi tiền. Trong phút chốc, Harry bỗng tìm lại phản xạ tự vệ của một người lính thủy quân lục chiến, quay ngược lưỡi dao đâm chết tên côn đồ. Cuối cùng, chiếc hộp pandora đã mở. Harry Brown trở thành một hung thần giết người không gớm tay, trả thù không nháy mắt. 

Ông lần tìm những manh mối để truy ra các thủ phạm, trong khi cuộc điều tra cảnh sát vẫn dậm chân tại chỗ. Vụ sát hại Leonard, người bạn thân của Harry, đã bị bọn lưu manh thu hình vào điện thoại di động. Nhưng thay vì giao lại bằng chứng này cho cảnh sát để bắt giữ thủ phạm, Harry nhất quyết giết từng người một. Bộ phim kết thúc với một cuộc thanh toán đẫm máu tại một quán rượu. Ngay cả tên trùm băng đảng không ngờ là dù bị trọng thương, ông lão lại liều mạng quyết tử đến như thế. Hận thù : một món ăn nguội. Trong tim Harry, chỉ toàn là máu lạnh. 

Cuộn phim Harry Brown tựa như một cái tát vỗ vào mặt, một cú đấm huých vào bụng. Có lẽ cũng vì thế mà khi xem xong, khán giả không khỏi sững sờ chết điếng trong lòng. Đây không phải là lần đầu tiên nam diễn viên Michael Caine đóng phim hành động, vì ông đã từng thủ vai một cách xuất sắc trong các tác phẩm với nội dung tương tự như Get Carter của đạo diễn Mike Hodges (phim này sau đó được quay lại với Stallone trong vai chính), Ipcress File của Sidney J Furie, hay Play Dirty của André De Toth. Nhưng nếu như trong phim Get Carter, ông vào vai một tên tội phạm, sau khi ra tù tìm cách trả thù cái chết của người anh, thì ngược lại nhân vật Harry Brown là một người lương thiện, thời đi lính ông trực diện với cái chết và giết người trong hoàn cảnh chiến tranh xung đột. 

Ăn miếng trả miếng, dùng độc trị độc 
 
Xem phim Harry Brown, người ta liên tưởng đến nhân vật Paul Kersey do Charles Bronson thủ vai trong loạt phim Death Wish. Trong phim này, Charles Bronson vào vai một kiến trúc sư, trả thù cái chết của vợ con. Người ta cũng nghĩ đến viên thanh tra Harry Callahan trong loạt phim Dirty Harry. Điểm chung của các nhân vật này là họ dùng độc trị độc, dùng sức mạnh để giải quyết bạo lực. Họ không có bạn thân nào khác ngoài cái tên của những khẩu súng lục Magnum, Colt hay Walter PKK. 

Nhưng sự so sánh sẽ dừng lại ở đó, vì Harry Brown là mẫu người mà ta có thể bắt gặp trong đời thường, trong khi các nhân vật mà Hollywood chuyên tạo dựng thường là những anh hùng trừ gian diệt bạo. Thật ra, Harry Brown gần giống hơn với mô típ nhân vật William Munny, mà đạo diễn Clint Eastwood đã quay cho bộ phim Unforgiven (Không thể tha thứ). Trong cả hai bộ phim này, màn cuối khá giống nhau với cảnh thanh toán đẫm máu trong quán rượu, chỉ có điều một bên là phim cao bồi, còn bên kia là phim hình sự. 

Harry Brown không phải là hạng người anh hùng cứng cựa gân cốt. Bằng chứng là vì rượt đuổi kẻ gian mà ông lên cơn đau tim, phải đưa vào bệnh viện. Ông cũng chẳng phải là tay súng thiện xạ, bắn phát nào trúng phát nấy. Nơi nhân vật này chỉ còn một trái tim sỏi đá chai lỳ, điếc không sợ súng, già không sợ chết. Một khi vợ ông đã từ trần và người bạn thân qua đời, Harry đă mất đi những điểm tựa cuối cùng, mất luôn cái bản tính tốt còn sót lại trong tâm hồn. Suy cho cùng, Harry Brown trả thù không phải vì tâm hồn hào hiệp, mà thật ra ông chẳng còn thiết tha với cuộc sống. Trong màn cuối, khi bị dí súng vào mặt, ông không sợ mà lại xem đó là cách cuối cùng để giải thoát nỗi khổ đau.

Tuy gọi là phim hành động, nhưng Harry Brown lại thiên về mạch phim tâm lý xã hội nhiều hơn. Trong tác phẩm đầu tay của mình, đạo diễn Daniel Barber quay nhiều đoạn như phim tài liệu, diễn đạt cao độ tính chất hiện thực khi mô tả thế giới thu nhỏ của các băng đảng tội ác, thành phần thiếu niên ở những khu phố nghèo nghĩ rằng họ dễ kiếm tiền bằng con đường bất chính hơn là làm ăn lương thiện. Thời thanh niên, Harry Brown cầm lấy vũ khí để đấu tranh cho một chính nghĩa. Thanh niên ở các khu phố nghèo thời nay không còn lý tưởng để đeo đuổi.

Đạo diễn Daniel Barber buộc người xem phải suy ngẫm trước câu hỏi : trong một chính sách phát triển xã hội, việc bỏ rơi những khu phố nghèo, rồi để cho các băng đảng kiểm soát thao túng, phải chăng là trách nhiệm của một nhà nước pháp quyền. Xa hơn nữa, phải chăng đó là trách nhiệm của cộng đồng tập thể, khi mỗi người chỉ lo cho chuyện của mình, dù ý thức những gì đang xảy ra ở xung quanh nhưng vẫn khoanh tay đứng nhìn hay mặc kệ làm thinh.

Đường xuống địa ngục, ngưỡng cửa cuối cùng 
 
Trong phim Harry Brown, mạch phim xã hội tràn ngập trên màn ảnh, không khí căng thẳng, tăm tối, càng đến gần đoạn kết càng sặc mùi bạo lực. Đặc biệt là trong màn quay tại căn nhà trồng cần sa, dưới ống kính của Daniel Barber, nhân vật Harry Bown càng không nhân nhượng, không thỏa hiệp. Có lẽ cũng vì thế mà bộ phim bị nhiều nhà phê bình chỉ trích là cực đoan, quá khích khi đẩy bạo lực leo thang đến tột cùng. Cách mô tả xã hội đen của đạo diễn do thiếu phân tích nên chỉ dừng lại ở mức phác họa, với những đường nét thô thiển chứ chưa thể là tinh tế. Đó là khuyết điểm chính của bộ phim.

Ngược lại, ưu điểm của tác phẩm là tạo cơ hội ngàn vàng cho Michael Caine thi thố tài năng diễn xuất. Nơi Harry Bown không có chuyện tức nước vỡ bờ, giọt nước tràn ly. Toàn bộ phim được quay với nhịp điệu khá chậm, quyết định thanh toán kẻ thù dần dần chín mùi trong tư tưởng của nhân vật chứ không đột ngột nảy sinh trong tâm trí. Sự trả thù của Harry Bown là hành động của một kẻ không còn gì để mất. Trong cuộc hành trình dẫn xuống chín tầng địa ngục, hung thần Harry Brown không còn sợ khi phải vượt qua ngưỡng cửa cuối cùng.

Read more ...

Lễ hội, trò chơi dân gian Việt Nam ngày Tết

Đô vật trong tranh Đông Hồ
Đánh chắn, tổ tôm, đô vật, đánh đu là những trò chơi truyền thống ngày Tết của người Việt. Nhưng tại Việt Nam, các lễ hội làng ngày càng được quảng bá rộng rãi thường bị quá tải. Đồng hóa các lễ hội đang làm biến dạng và đánh mất nét đặc thù văn hóa của các thú chơi Xuân của người Việt.

Tết nguyên đán cũng là thời điểm từng được nhà thơ Nguyễn Bính xưa kia miêu tả:

"Thong thả nhân gian nghỉ việc đồng
Lúa thì con gái mượt như nhung
Đầy vườn hoa bưởi hoa cam rụng
Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng"


Hai chữ « ăn Tết » như thể được gắn liền với nhau trong ngôn ngữ của người Việt. Nhưng chúng ta còn nhớ câu hát thân quen : « Tháng giêng là tháng ăn chơi ... » và mọi công việc đồng áng thì hãy để thư thư đến tháng hai, tháng ba cũng chưa muộn.

Một số trò chơi dân gian ngày Tết đã đi vào thi ca như bài "Cây Tam Cúc" của Hoàng Cầm hay "Đánh đu" của nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Sinh thời, cụ Nguyễn Công Trứ cũng đã có bài thơ nổi tiếng để khất nợ vì thua tổ tôm. Nhưng các trò chơi ngày xuân trong văn hóa Việt Nam không chỉ giới hạn ở đó. 

Vậy thì trong cả tháng giêng dài, cũng như trong ba ngày Tết người Việt Nam chúng ta giải trí với những trò chơi gì? RFI việt Ngữ đặt câu hỏi này với Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, Phó giám đốc thư viện Hán Nôm, Hà Nội.

Trước hết Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện nhắc đến nhiều hình thức giải trí khác nhau trong dân gian vào dịp Tết nguyên đán : từ các trò chơi ở trong nhà như tổ tôm, tam cúc ... đến các trò chơi mang tính thể thao hay gợi lại những trang sử chống xâm lăng của người Việt. Bên cạnh đó còn phải kể đến các lễ hội làng, như hội Lim, hội chùa Hương, hội Và ...

Nhưng trong mắt của nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Diện, với năm tháng, nhiều lễ hội truyền thống của Việt Nam đã bị "kịch bản hóa" và nét đa dạng văn hóa, nghệ thuật của các lễ hội làng đang bị mai một.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện, Phó giám đốc thư viện Hán Nôm, Viện Hán Nôm-Hà Nội:



Nguồn: RFI

Read more ...

Mười đức tính thiết yếu trong văn hóa tây phương

Đức tính nào được coi là quan trọng nhất để tạo nên nhân cách vững mạnh?

Người Hy lạp cổ đại cho là có bốn đức tính quan trọng. Họ xem trí là đức tính chủ đạo, đức tính hướng dẫn mọi đức tính khác. Trí là có óc phán đoán đúng đắn, giúp cho ta có thể đưa ra những quyết định mang lại lợi ích cho ta và người khác. Trí cũng giúp ta áp dụng các đức tính khác trong hành động-khi nào thì hành động, hành động ra sao, và làm thế nào để điều hòa giữa các đức tính khác nhau khi gặp xung đột; thí dụ đơn giản như khi phải thật thà nói lên sự thật làm mất lòng kẻ khác. Trí giúp cho chúng ta phân biệt sự kiện được đúng đắn, để thấy đâu là điều thật quan trọng trong đời để còn ấn định những ưu tiên cho phù hợp. Nhà đạo đức học Richard Gula đã nói: "Ta không thể làm đúng nếu trước hết ta không nhìn thấy đúng."

Đức tính thứ hai người Hy lạp đề cao là công bình. Công bình nghĩa là tôn trọng quyền của tất cả mọi người. Quy luật Vàng bảo ta rằng hãy làm cho người khác những gì ta muốn họ làm cho ta, là một nguyên tắc của công bình được phổ cập trong mọi văn hóa và tín ngưỡng trên thế giới. Vì chính bản thân chúng ta cũng là con người, công bình cũng bao gồm lòng tự trọng, một nhận thức đúng đắn về nhân cách và quyền của chính mình. Trong các trường học, chương trình đức dục chú trọng vào tính công bình vì đức tính này bao gồm các đức tính khác trong quan hệ giữa con người với nhau như đối đãi với nhau có văn minh, thật thà, có trách nhiệm, và bao dung (bao dung không có nghĩa là chấp nhận niềm tin của kẻ khác hay chấp nhận hành vi của họ, nhưng có nghĩa là tôn trọng quyền tự do suy nghĩ và hành xử sao cho không vi phạm đến quyền của kẻ khác). Mối quan tâm về sự công bình cộng với khả năng biết phẫn nộ trước những điều bất công thúc đẩy chúng ta hành xử như một công dân trong việc xây dựng một xã hội và thế giới công bình hơn.

Đức tính thứ ba, một đức tính rất thường bị bỏ quên là dũng cảm. Dũng cảm giúp cho chúng ta làm đúng khi đối diện với khó khăn. Quyết định đúng trong đời, thường là quyết định khó. Khẩu hiệu của một trường trung học đã nắm được tinh túy này như sau: "Làm điều phải dù khó thay vì làm điều dễ mà sai." Dũng cảm, theo nhà giáo dục James Stenson, là sức mạnh nội tâm giúp ta vượt qua hoặc chịu đựng nổi những khó khăn, thất bại, bất lợi và đau đớn. Can đảm, kiên trì, nhẫn nhục, chịu đựng và một niềm tự tin vững mạnh là các diện của dũng cảm. Hiện tượng trẻ vị thành niên tự tử đang tăng vọt trong 3 thập niên qua đáng cho ta quan tâm; một trong những nguyên nhân có lẽ là các em đã không được chuẩn bị để đương đầu với những thất vọng không thể tránh khỏi trong đời. Chúng ta cần dạy cho các em biết rằng các đức tính được phát triển qua đau khổ nhiều hơn là qua thành công, và những trở lực sẽ làm chúng ta lớn mạnh hơn nếu chúng ta đừng dùng nó làm lý do để ngồi than thở.

Đức tính thứ tư là tự chủ. Tự chủ là khả năng kiểm soát lấy chính mình, giúp ta kiểm soát được sự nóng giận, điều hòa những nhu cầu tâm-sinh lý, và theo đuổi những ham thích chính đáng một cách chừng mực. Tự chủ là sức mạnh chống lại các cám dỗ và giúp cho ta khả năng chờ đợi--đình hoãn những khoái lạc hiện tại để tiếp tục tiến tới mục tiêu cao xa hơn. Cách ngôn có câu: "Nếu ta không cai quản được tham vọng, thì tham vọng sẽ cai quản ta." Các hành vi thiếu thận trọng hoặc tội phạm đều nảy sinh từ sự thiếu tự chủ mà ra.

Qua các đức tính trên, người Hy lạp quả đã nói khá đầy đủ về phạm trù đạo đức, nhưng còn thiếu đức tính quan trọng thứ năm. Đó là tình yêu. Tình yêu còn hơn cả công bằng, vì tình yêu khiến cho ta cho đi nhiều hơn cái mà công bằng đòi hỏi. Tình yêu là sự sẵn lòng hy sinh cho kẻ khác. Tất cả các đức tính quan trọng của con người, như thông cảm, trắc ẩn, tử tế, bao dung, phục vụ, trung thành, ái quốc, và tha thứ, tạo nên đức hạnh của tình yêu. F. Washington Jarvis viết trong cuốn sách "Với Yêu thương và Khấn nguyện" rằng: "Tình yêu--một tình yêu vị tha không đòi hỏi đền đáp là nguồn lực mạnh nhất trong vũ trụ. Ảnh hưởng của tình yêu đến kẻ nhận cũng như người cho là điều không thể đo đếm được." Tình yêu là một đức hạnh mang tính cách đòi hỏi và khắt khe. [Bởi vì] Nếu ta thật sự tuân theo lời răn quen thuộc "Hãy yêu láng giềng của ta như thể yêu ta," chắc chắn ta sẽ cố gắng không truyền đi nhừng tin đồn nhảm hay chỉ trích họ, vì biết rằng chính ta cũng cảm thấy khó chịu khi kẻ khác nói về ta như vậy.

Thái độ tích cực là đức tính quan trọng thứ sáu. Nếu ta có thái độ tiêu cực trong đời, thì ta là gánh nặng cho chính ta và người khác. Nếu ta có thái độ tích cực, thì ta là một tài sản của chính ta và cho người khác. Hy vọng, phấn khởi, linh động, và óc hài hước là những thuộc tính của một thái độ tích cực. Tất cả chúng ta, dù già hay trẻ, cần nhớ rằng thái độ của chúng ta là do chính ta lựa chọn. Abraham Lincoln nói: "Hạnh phúc của hầu hết chúng ta là do ý tưởng của ta quyết định." Martha Washington cũng nói: "Tôi học được từ kinh nghiệm bản thân rằng hầu hết những hạnh phúc hay đau khổ tùy vào thái độ của ta chứ không vào hoàn cảnh. Ta mang theo mầm hạnh phúc hay khổ đau với ta trên mọi bước đường."

Chuyên Cần (hard working) là đức tính thứ bảy, một đức tính không thể thiếu được. Không thể sống trong đời mà không làm việc, và không thể nào đạt được thành quả nếu thiếu chuyên cần. Vị huấn luyện viên bóng rổ lừng danh John Wooden từng nói: " Tôi thách các bạn có thể chỉ cho tôi một người đạt được thành quả xuất sắc trong đời họ mà không phải làm việc cật lực." Chuyên cần gồm có sáng tạo, siêng năng, biết đặt mục tiêu và tháo vát.

Đức tính quan trọng thứ tám là liêm chính (integrity). Liêm chính là luôn tuân theo các nguyên tắc đạo đức, lương tâm, giữ lời nói, và dám bảo vệ những gì ta tin tưởng. Có đức tính liêm chính tức là "toàn vẹn," do đó những việc ta làm luôn nhất quán trong những trường hợp khác nhau. Liêm chính khác với thành thực ở chỗ thành thực là nói thật với người khác, còn liêm chính là thành thật với chính mình. Josh Billings, một nhà văn nói: "Hình thức lừa dối nguy hiểm nhất là lừa dối chính mình." Tự lừa dối nguy hiểm ở chỗ nó cho phép ta làm theo ý thích của mình rồi tìm các lý lẽ để biện minh cho các hành động ấy.

Lòng biết ơn là đức tính thứ chín. Văn sĩ Anne Husted Burleigh nhận xét: "Lòng biết ơn cũng giống như lòng yêu thương không phải là một cảm xúc mà là một hành động của ý chí. Chúng ta chọn xem có biết ơn không, cũng như chọn xem có nên yêu hay không." Lòng biết ơn thường được xem như bí mật của một đời sống hạnh phúc; nó nhắc cho ta nhớ rằng ta đang cùng uống nước từ một cái giếng mà ta chưa bao giờ đào; nó nhắc ta nhớ để đếm những phước hạnh ta nhận được mỗi ngày. Anh hùng quân đội Eddie Rickenbacker khi được hỏi anh học được bài học nào lớn nhất khi trôi giạt 21 ngày trên một chiếc bè giữa Thái Bình Dương, đã trả lời: "Nếu bạn có nước uống tha hồ, thức ăn thừa mứa, thì bạn đừng nên than phiền về bất cứ điều gì nữa."

Khiêm nhượng là đức tính cuối cùng và cũng có thể được xem là nền tảng của đời sống đạo đức. Khiêm nhượng là điều cần thiết giúp ta sở đắc những đức tính khác vì nó cho ta biết được sự bất toàn của mình mà cố gắng để trở nên người tốt hơn. Nhà giáo David Isaacs viết: "Khiêm nhượng là nhận thức được những khiếm khuyết của mình và cố gắng hết khả năng để phục vụ mà không cần đến được vinh danh hay tán thưởng." Đại thi sĩ T. S. Eliot cũng nói: "Một nửa những điều tệ hại xảy ra cho thế giới này là do những người muốn được cảm thấy ta đây là quan trọng gây ra." Triết gia Dietrich von Hildebrand cũng viết: "Mọi đức hạnh đều chẳng có giá trị gì hết nếu ta để lòng kiêu len lỏi đi vào-điều này xảy ra mỗi khi ta cảm thấy hãnh diện về lòng tốt của mình." Một tác giả khác nhận xét rằng không có lòng khiêm nhượng, ta sẽ giữ những khuyết điểm của mình vì sự kiêu hãnh khiến cho ta không nhận ra chúng nữa. Lòng khiêm nhượng giúp ta nhận lấy trách nhiệm về những lỗi lầm do ta gây ra, và sửa đổi chúng. Louis Tartaglia, một bác sĩ về tâm thần, viết trong cuốn sách mang tựa đề "Không lầm lỗi! Mười khuyết điểm thường gặp trong cá tính và Ta có thể làm gì?" rằng, trong suốt 20 năm hành nghề, ông nhận ra khuyết điểm thường gặp nhất là bệnh "ghiền phải là người đúng." Ông hỏi: "Có khi nào bạn nhận ra là lại đang thảo luận về sự bất đồng ý ngay cả khi chuyện đó xong lâu rồi, chỉ để chứng minh là mình đúng?" Chìa khóa để xây dựng đức tính trong trị liệu cũng như trong đời sống là lòng khiêm nhượng để thay đổi.

Nguồn: Học Viện Công Dân 2006

Read more ...

Bài giảng cuối cùng

Read more ...

Website counter