Chung Ju-Yung: Biến điều không thể thành có thể

Từ những thất bại cay đắng nhất thời trai trẻ, vượt lên những khó khăn, đương đầu với thử thách, biến điều không thể thành hiện thực, Chung Ju-Yung - người sáng lập tập đoàn Huyndai - đã góp phần đưa một Hàn Quốc chiến tranh triền miên, khí hậu khắc nghiệt trở thành một nền kinh tế vững mạnh đáng khâm phục.

Ý chí tiến thủ và niềm tin của một người nông dân chính là chìa khóa để làm nên những kỳ tích đó. Dù là một quốc gia hay một doanh nghiệp thì cội nguồn để thành công nằm ở việc những nhân vật chủ chốt của doanh nghiệp đó, quốc gia đó có tinh thần tiến thủ mạnh mẽ ra sao và hành động như thế nào. Cuộc đời và những quyết tâm đổi mới kinh tế của Chung Ju-Yung đáng để cho bất kỳ quốc gia nào muốn thoát khỏi nghèo đói, lạc hậu học hỏi.

Tuổi thơ và ba cuộc trốn chạy

Sinh ra và lớn lên trên vùng quê Asan nghèo khó, trong một gia đình nông dân đông anh em, quanh năm cần cù lao động cũng chỉ đủ ăn, tuổi thơ của Chung Ju-Yung gắn liền với chế độ thống trị của Nhật Bản, nhân dân Hàn Quốc lúc đó sống trong cảnh dè sẻn "sáng cơm, tối cháo" từng ngày.

Asan là vùng quê khí hậu khắc nghiệt: mùa khô thì hạn hán như muốn đốt cháy tất cả, mùa mưa thì mang đến những trận hồng thủy, mùa đông thì dìm tất cả ngập trong tuyết. Tuyết rơi dày hơn một mét, có khi đến hai mét, người dân phải đào đường hầm mà đi. Chỉ cần mưa đến muộn một chút vào mùa xuân, hay một cơn mưa đá trong mùa hè hoặc sương muối sớm vào mùa thu là cả năm mất mùa.

Ông Chung Ju-Yung. Ảnh: wiki

Mười bốn tuổi Chung Ju-Yung tốt nghiệp tiểu học, ngay lúc ấy giấc mơ học tiếp để trở thành thầy giáo tiểu học đã ấp ủ trong đầu ông. Người cha thì luôn muốn con trai trở thành một nông dân giỏi, nhưng ông chỉ muốn thoát khỏi vùng quê nghèo đó, dù làm công nhân nhà máy cũng chẳng sướng hơn làm một nông dân. Thế là ý chí thúc giục ông lên thủ đô Seoul, tự học, vượt qua kỳ thi để trở thành một luật sư như những gì ông đọc được trong một trong báo.

Lần đầu tiên cùng một người bạn trốn nhà đi, đường lên thành phố khá xa nên ông phải đi xin cơm. Vận may đến với ông và người bạn khi họ đượ nhận làm công nhân xây dựng đường xe lửa Bình Nhưỡng - Gowon. Ý đồ gom góp tiền đi Seoul chưa thành thì cha ông tìm thấy và đưa về. Trở về nhà nhưng ông vẫn bực tức trong lòng: "Những đồng tiền quý giá mà mình làm được chẳng là bao nhưng đó là công sức của chính mình. Nếu có thể cho mình tiếp tục công việc thì mình có đủ tự tin để khám phá cái thế giới mới mẻ và rộng lớn bao la này".

Lần thứ hai trong tay, ông lại bị một người đàn ông đứng tuổi lừa hết tiền. Cũng chính vì tin rằng ông ta sẽ kiếm cho mình một công việc trong khách sạn ở Seoul nên ông lại một lần nữa trắng tay. Sau chuyến đi 10 ngày ấy, ông lại bị một người bà con đưa về. Ông chấp nhận trở lại làm nông dân vì cảm thấy có lỗi khi làm cha đau lòng. Nhưng tâm trí ông chỉ hướng về Seoul, ý chí thoát nghèo trong ông vẫn không thay đổi.

Suy nghĩ kỹ lưỡng, lần thứ ba ông trộm 70 won bán bò của bố để lên Seoul học kế toán. Ông rất khâm phục Napoleon, người sinh ra trong một gia đình nghèo, nhờ tinh thần bất khuất, dũng cảm cuối cùng đã trở thành Hoàng đế Pháp. Ông cũng thấy tuổi thơ mình có nhiều nét giống Lincoln - xuất thân nông dân, rồi ra thành phố lao động và sau đó trở thành Tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ.

Mới học được hai tháng, bất ngờ người cha lại xuất hiện trước mặt ông, nhưng không giận cũng không mắng, cha ông chỉ nói vài lời: "Con phải nhớ con là một thằng nhà quê học hết cấp 1, ở Seoul người ta học hết trường Cao đẳng còn thất nghiệp đầy cả đống. Cha già rồi, con là con trưởng thì phải giúp cha, con mà bỏ mặc thì cả nhà sẽ thành bầy ăn mày". Lời cha cứa vào trong lòng ông, hình ảnh người mẹ và các em hiện lên trước mắt, nỗi buồn ngập tràn và ông đã khóc. Và ông lại thất bại trong chuyến đi lần này.

Ý chí có kiên cường, con người có mạnh mẽ thế nào, vẫn không vô tình và bỏ mặc những người thân yêu.

Từ khuân vác thành giám đốc

Sau ba lần lên Seoul không thành, Chung Ju-Yung vẫn không từ bỏ giấc mơ thoát khỏi cái nghèo khổ của vùng quê heo hút và khắc nghiệt ấy.

Dường như may mắn đã mỉm cười với ông trong lần thứ tư trốn nhà, ông xin được một chân khuân vác ở công trình xây dựng trường học Bosung (ĐH Hàn Quốc bây giờ).

Sau hai tháng tìm tòi công việc, ông trở thành nhân viên phân phối gạo lẻ cho của hàng gạo "Phục hưng Thương hội". Do có kiến thức kế toán học được trước đó, ông được chủ cửa hàng rất tin tưởng.

Sau 4 năm làm việc ở đây, sự kiên trì, say mê, cần cù, chịu khó, thật thà của Chung Ju-Yung đã khiến ông chủ Phục hưng Thương hội quyết định trao lại của hàng cho ông thay vì đứa con trai ông ăn chơi, trác táng của mình. Ông đổi tên cửa hàng thành "Kinh nhất Thương hội". Từ một kẻ không xu dính túi, Chung Ju-Yung đã có trong tay một cửa hàng phân phối gạo lớn khi mới 22 tuổi nhờ uy tín tích lũy được trong bốn năm trời.

Năm 1939 chiến tranh xảy ra, chế độ phân phối gạo được ban bố, tất cả các cửa hàng buôn bán gạo trong cả nước bị đóng cửa. Trước cú sốc lớn đó, ông vẫn vững lòng tin: nếu toàn tâm, toàn ý dốc sức thì bất cứ việc gì cũng có thể thành công.

Ông về quê mua cho cha thêm 660 mét vuông đất và biếu cha một khoản tiền vốn. Đầu năm sau, hoài bão làm giàu lại thôi thúc ông lên Seoul, mảnh đất mà người trượng phu có thể vật lộn với số mệnh.

Khi đang lang thang với số vốn ít ỏi, ông được một người bạn cho biết một nhà máy sửa chữa ôtô đang có ý định chuyển nhượng. Ông mù tịt về ôtô nhưng người bạn khẳng định nghành này cần ít vốn mà kiếm nhiều tiền, còn hứa sẽ tập hợp thợ giỏi cho ông, cần nhất là có 3.500 won để chuyển nhượng. Nhờ uy tín thời buôn bán gạo, ông vay được 3.000 won từ một người cho vay lãi mà không cần thế chấp, chỉ bằng uy tín. Gom góp cả vốn, vay và được hai người bạn giúp đỡ, ông có 5.000 won để tiếp quản nhà máy sửa chữa ô tô Ado Service vào năm 1940.

Ông bắt đầu công việc mới với tràn trề hy vọng. Mọi việc ban đầu đều trôi chảy, khách đến ngày càng đông. Nhưng không may, một buổi sáng, một công nhân sơ ý để dầu bén lửa trong khi rửa tay khiến cả nhà máy bốc cháy, trong đó có cả những chiếc xe đắt tiền vừa sửa xong của khách. Tất cả thành tro bụi, ông đứng trước nguy cơ phá sản, nợ chồng chất.

Ông lại tìm đến người cho vay nặng lãi, không phải để trả nợ mà là vay thêm, vẫn không thế chấp cái gì ngoài uy tín. Ông nhanh chóng xây dựng lại nhà máy, công việc ngày càng nhiều, làm cả ngày lẫn đêm. Ông cũng làm việc như một công nhân. Cạnh tranh với các xưởng sửa chữa hàng đầu trong thành phố thời đó, ông đề ra tiêu chí sửa nhanh gấp 2 - 3 lần. Vì thế mà xe hơi của thành phố Seoul cứ ùn ùn kéo về xưởng của ông.

Ông mở rộng mặt bằng, tìm thêm khách hàng: người ngoại quốc, quân đội, ngoại thành... Bản thân ông dần nắm vững mọi nguyên lí hoạt động của tất cả các loại máy móc, xe cộ. Và Công ty công nghiệp xe hơi Huyndai ra đời ngày 25/5/1947, ông là giám đốc.

Người ta khi thành công thì nghĩ là do may mắn, còn khi công việc không suôn sẻ thì lại đổ cho là không may. Nhưng đối với Chung Ju-Yung thì: "Một người không tin là có vận xấu, người đó sẽ không có vận xấu. Mọi thứ đều quân bình, vận may rủi đều đến với con người như nhau. Quan trọng nhất là phải nỗ lực, nỗ lực không ngừng và biết chớp thời cơ".

Ý tưởng độc đáo, tự tin vào chính mình

Chiến tranh với Nhật ngày càng khốc liệt buộc ông phải sát nhập, rồi nhượng lại công ty cho người khác. Bắt đầu lại từ số không, ông xin vào làm ở xưởng chế luyện Choksan và chờ đợi cơ hội.

Ông dần khôi phục lại công ty của mình. Một lần lên cơ quan hành chính nhận tiền, ông gặp các nhà thầu xây dựng. Ông nhận được 100 won thì họ lãnh mấy ngàn won - cũng một khoảng thời gian và công nhân như nhau mà tiền công lại chênh lệch một trời một vực. Ngay lập tức ông treo thêm tấm biển "Công ty xây dựng cơ bản Huyndai". Ông trúng một hợp đồng sửa chữa trị giá 1.530.000 won ngay trong năm đầu tiên.

Có kinh nghiệm về xây dựng cơ bản, lại tự tin vào quyết định đúng đắn của mình, ông không thấy cái gì là khó khăn. Ông luôn tuân theo một nguyên tắc: "Tin tưởng 90 phần trăm sẽ thành và 10 phần trăm tự tin mình nhất định làm được".

Nhưng cuộc sống chẳng khi nào có thể đoán trước, chính trị lại chi phối tất cả, nhất là trong thời chiến tranh loạn lạc. Hỗn loạn 25/6 nổ ra, ông cùng em trai phải li tán gia đình.

Qua quen biết, ông nhận được một công trình của quân đội Mỹ. Dự án phủ xanh nghĩa trang của quân đồng minh trong mùa đông tuyết giá rất gấp về thời gian, ai cũng cho là không thể làm được. Vậy mà ông vẫn làm được hoàn hảo bằng cách mua cây lúa ở nơi khác, vận chuyển cả gốc về phủ lên. Dự án được hoàn thành còn ông được Tổng thống Mỹ Eisenhower khen hết lời.

Với công trình Koriong (cầu đường bộ bắc qua sông Hàn) sau đó, ông học được một bài học quan trọng là: "Việc học hỏi những người trẻ hơn, có địa vị thấp hơn mình những điều mà mình không biết, không có gì là xấu hổ". Ông đã học được rất nhiều từ các chuyên gia kiến trúc trẻ người Mỹ, từ thiết kế đến quản lý chất lượng công trình.

Chung Ju-Yung thu được thành công từ sửa chữa ôtô đến xây dựng nhà ở, cầu đường, những lĩnh vực khó khăn cần ý tưởng và kinh nghiệm cũng như sự sáng suốt. Đối với thành bại trong đời, ông quan niệm chìa khoá chính là hành động và thời gian. Cũng chính phương trâm này đã giúp ông cạnh tranh được với các công tu xây dựng nước ngoài.

Trước sự ngạc nhiên của người thân và công nhân, ông lại có thêm một quyết định táo bạo là chuyển sang lĩnh vực đóng tàu. Là người luôn tìm tòi cái mới, ông coi "cái gọi là đóng tàu nào có khác việc xây dựng là mấy". Việc cắt thép ra, hàn lại và đặt máy lên, tất cả chẳng phải là những việc ông vẫn thường làm đó sao? Suy nghĩ của ông biến mọi thứ từ phức tạp thành giản đơn, từ khó trở thành dễ.

Thế là công ty đóng tàu Huyndai tại Ulsan ra đời và phát triển như vũ bão. Đến thập niên 70 của thế kỷ XX, công ty của ông là công ty đóng tàu lớn nhất thế giới.

"Doanh nghiệp Hàn Quốc và nền kinh tế Hàn Quốc phát triển như ngày hôm nay là dựa vào ý chí bất khuất của con người sáng tạo, vào tinh thần tiến thủ, sự cống hiến hết sức mình của tầng lớp công nhân cần cù và ưu tú. Tất cả chỉ bằng sức người".

Biến đổi lịch sử

Ngắm cánh đồng rộng lớn mà cha khai hoang trên núi Sosan, ông cảm thấy tinh thần tiến thủ của cha đang ngấm vào mình. Tính cần cù của cha mẹ là bài học quý giá của cuộc đời ông, là di sản nền tảng biến ông thành con người thành đạt đến thế.

Ông Chung Ju-Yung. Ảnh: wiki

Tình cảm của cha ông, cũng như những nông dân hiền lành và chất phác, dành cho đất, khao khát có được một mảnh đất của riêng mình, cũng ấp ủ trong Chung Ju-Yung ước muốn khai hoang đất đai. Với người Hàn Quốc, việc khẳng định và mở rộng đất đai trong hoàn cảnh dân số tăng cao và thiếu lương thực cũng là điều cực kỳ quan trọng.

Giấc mơ biến vùng biển lồi lõm phía Tây Nam thành đồng bằng đã nhen nhóm trong ông từ thửa ấu thơ. Đây là công trình dân sự lớn nhất cho đến năm 1983. Vùng biển này nổi tiếng nguy hiểm bởi đá ngầm và nước mạnh, tốc độ nước đến 6m/s, khiến những tảng đá to bằng xe hơi vừa ném xuống đã tức khắc biến mất.

Chính trong khó khăn, con người sẽ nảy sinh sáng tạo: ông dùng đến sự trợ giúp của những chiếc tàu chở dầu nặng 230.000 tấn, dài 300m, rộng 45m và cao 27m. Phương pháp này tiết kiệm được 29 tỷ won. Ông đã phải đục lỗ những tảng đá 4-5 tấn, lấy dây sắt cột 2-3 tảng vào với nhau rồi dùng phà ném xuống. Với công trình hơn đê chắn thủy triều dài 6.400m này, Chung Ju-Yung đã mang lại cho Hàn Quốc hơn 100 triệu mét vuông đất nông nghiệp.

Sau đó ông tiếp tục khử mặn đất trong vòng 7 năm và bắt tay trồng thử nghiệm 13 giống lúa ở các khu vực khác nhau. Ông ôm giấc mơ biến mảnh đất này thành nơi sản xuất lương thực nhiều hơn cả Califonia (nơi sản xuất lương thực lớn nhất nước Mỹ).

Năm 1988, khu vực khai hoang Sosan đã lột xác thành mảnh đất nông nghiệp cơ khí hóa với quy mô lớn. Ngoài hiệu quả trực tiếp là mở rộng lãnh thổ và tăng thêm nguồn lương thực, nó còn tạo công ăn việc làm cho khoảng 6,6 triệu người mỗi năm.

Ông đã biến giấc mơ của cha có đất rộng như biển thành hiện thực. Ý tưởng khai hoang mở rộng đất đai và kiến thiết đắp đê chắn thủy triều của Chung Ju-Yung còn được nhiều nước tiên tiến trên thế giới áp dụng.

Con đường kinh tế lấy dân sự làm chủ đạo

Theo Chung Ju-Yung: "Cái gọi là kinh tế dân sự có thể hoàn thành khi tất cả người dân bắt đầu từ Chính phủ và doanh nghiệp tự nhận biết trách nhiệm và vai trò của mình, có ý chí vững vàng để thành công trong việc hiện đại hóa xã hội và kinh tế". Mô hình lấy dân sự làm chủ đạo không phải là doanh nghiệp làm hết việc của Chính phủ, không phải doanh nhân giải quyết công việc của Chính phủ, hay Chính phủ hoàn toàn không can dự vào việc của doanh nhân, nhưng việc Chính phủ can thiệp và tham gia quá sâu vào công việc của doanh nghiệp không phép được tồn tại nữa.

Quản lý toàn bộ nền kinh tế đất nước và lựa chọn chính sách là do Chính phủ thực hiện. Điều chỉnh công nghiệp, xây dựng xã hội chính là chức năng của Chính phủ. Chính vì vậy, Chính phủ không phải chịu trách nhiệm với những doanh nghiệp tiêu cực, cũng chẳng có việc ngân hàng phải lo tiếp nhận hàng loạt các doanh nghiệp tiêu cực. Có vậy kinh tế quốc gia mới phát triển lành mạnh.

Điều quan trọng là Chính phủ đưa ra phương hướng phát triển kinh tế quốc dân, tạo ra dòng chảy hướng tới tương lai, tăng thêm vốn nhà nước, tài sản chung, đường xá, cảng...Việc cần làm là không kể hết.

Read more ...

Die vier Kerzen am Adventskranz

Hồi còn học Studienkolleg được các giáo viên tặng câu chuyện sau nhân dịp Noel:

" Vier Kerzen brannten am Adventskranz. Es war still. So still, dass man hörte, wie die Kerzen zu reden begannen.

Die erste Kerze seufzte und sagte: Ich heiße Frieden. Mein Licht leuchtet, aber die Menschen halten keinen Frieden, sie wollen mich nicht. Ihr Licht wurde immer kleiner und verlosch schließlich ganz.

Die zweite Kerze flackerte und sagte: Ich heiße Glauben, aber ich bin überfüssig. Die Menschen wollen von Gott nichts wissen. Es hat keinen Sinn mehr, dass ich brenne. Ein Luftzug wehrte durch den Raum, und die Kerze war aus.

Leise und sehr traurig meldete sich nun die dritte Kerze zu Wort. Ich heiße Liebe. Ich habe keine Kraft mehr zu brennen. Die Menschen stellen mich an die Seite. Sie sehen nur sich selbst und nicht die anderen, die sie lieb haben sollen. Und mit einem letzten Aufflackern war auch dieses Licht ausgelöscht.

Da kam ein Kind in den Raum. Es schaute die Kerzen an und sagte: Aber, aber ihr sollt doch brennen und nicht aus sein! Und fast fing es an zu weinen. Da meldete sich auch die vierte Kerze zu Wort. Sie sagte: Hab nur keine Angst! So lange ich brenne, können wir auch die anderen Kerzen wieder anzünden. Ich heiße Hoffnung.

Mit einem Streichholz nahm das Kind Licht von dieser Kerze und zündete die anderen Lichter wieder an. "

Read more ...

Nếu em không phải một giấc mơ...

Lauren quyết định kể cho anh nghe một chuyện, một trò chơi để anh tạm quên đi ngày mai. Cô bảo anh thử tưởng tượng, anh đã thắng trong một cuộc thi, và phần thưởng lại oái ăm như sau: mỗi sáng, một ngân hàng sẽ mở cho anh một tài khoản là 86.400$. Nhưng trò nào cũng phải có luật chơi, mà trò này lại có những hai:
- Luật chơi thứ nhất như thế này: toàn bộ số tiền mà anh không tiêu hết ban ngày sẽ bị tước mất vào buổi tối, anh không thể gian lận được, anh chỉ có thể tiêu, nhưng mỗi sáng, anh vừa thức dậy là ngân hàng lại rót tiếp cho anh 86.400$ nữa để anh dùng trong một ngày. Luật chơi thứ hai: ngân hàng có quyền ngừng cuộc chơi, không cần báo trước bất cứ lúc nào, ngân hàng cũng có thể thông báo là mọi việc đã kết thúc, họ sẽ đóng tài khoản ấy lại và sẽ không có tài khoản nào khác thay thế cả. Thế thì anh sẽ làm gì nào?
Arthur chưa hiểu rõ lắm.
- Dễ thế mà anh cũng chưa hiểu ư, chỉ là một trò chơi thôi mà. Thế này nhé, mỗi sáng, khi anh thức dậy, người ta sẽ cho anh 86.400$ với điều kiện duy nhất là anh phải tiêu hết nội trong ngày, số còn lại sẽ bị thu hồi khi anh lên giường ngủ, nhưng món quà từ trên trời rơi xuống này hay trò chơi này có thể dừng lại bất cứ lúc nào, anh hiểu chưa? Thế thì em hỏi anh nhé, anh sẽ làm gì nếu được một món quà như thế?
Arthur hồn nhiên đáp:
- Anh sẽ tiêu hết số tiền ấy cho bằng thích thì thôi và sẽ tặng quà cho tất cả những người mà anh yêu mến. Anh sẽ cố làm thế nào để mỗi đồng hai mươi lăm xu mà cái "ngân hàng trong truyện cổ tích" ấy bỏ ra cho anh để mang lại hạnh phúc cho cuộc đời anh và những người xung quanh, và ngay cả những người mà anh không quen nữa, bởi vì anh không tin là mình có thể tiêu 86.400$ mỗi ngày cho anh và cho người thân, nhưng ý em định nói gì thế?
- Ngân hàng trong truyện cổ tích ấy, chúng ta ai cũng có cả, đó chính là thời gian đấy! Mà ngân hàng thời gian thì chỉ có hạn thôi, anh ạ! Mỗi ngày, chúng ta chỉ có một quỹ thời gian là 86.400 giây, và đến mười hai giờ đêm, chúng ta không đươc mang số giây chưa kịp sống còn lại của ngày hôm nay sang ngày mai, thời gian ngày hôm nay mà chúng ta không biết tận hưởng đã trôi qua rồi, ngày hôm qua đã ra đi mãi mãi không bao giờ trở lại nữa. Và cứ thế, mỗi ngày mới, chúng ta lại được quyền sử dụng một quỹ thời gian là 86.400 giây, trò chơi quanh đi quẩn lại chỉ có thế thôi, nhưng ngân hàng thời gian có thể đóng tài khoản của chúng ta bất cứ lúc nào, không cần báo trước: bất cứ lúc nào, cuộc đời chúng ta cũng có thể dừng lại. Vì vậy, chúng ta phải sử dụng 86.400 giây hàng ngày như thế nào đây? Vấn đề là ở chỗ ấy chứ không phải là bao nhiêu giây, bao nhiêu đô-la, có phải không anh?
Từ khi bị tai nạn, Lauren càng ngày càng thấy rõ hơn một điều: rất ít người hiểu được, thời gian không phải là vô tận và ai cũng phải biết quý từng giây từng phút. Và lúc này, cô muốn chia sẻ với Arthur và giải thích cho anh hiểu những kết luận mà cô đã rút ra được từ câu chuyện vừa rồi: "Anh mà muốn hiểu một năm cuộc đời là như thế nào thì cứ đi hỏi cậu sinh viên vừa trượt thi kỳ thi cuối năm ấy. Một tháng cuộc đời thì anh cứ đi hỏi người mẹ vừa đẻ non và đang nóng lòng chờ con mình ra khỏi lồng ấp để được nâng niu nó, nâng niu một đứa trẻ bình yên vô sự ấy. Một ngày cuộc đời thì anh cứ đi hỏi cặp trai gái đang nhớ nhung và chờ mong được gặp lại nhau ấy. Một giờ cuộc đời thì anh cứ đi hỏi người mắc chứng sợ chỗ kín bị nhốt trong buồng thang máy hỏng hóc bất ngờ ấy. Một giây cuộc đời thì anh chỉ cần nhìn vẻ mặt người suýt nữa bị tai nạn giao thông là hiểu ngay thôi. Còn một phần nghìn giây cuộc đời dài như thế nào thì anh cứ đi hỏi vận động viên điền kinh chỉ giành được huy chương bạc tại Thế vận hội chứ không phải huy chương vàng, mặc dù mục đích tập luyện bao năm tháng ròng rã của anh chỉ là một chữ vàng ấy. Cuộc đời mà chúng ta được hưởng thật là kỳ diệu, anh Arthur ạ, em nói được câu này là do em hiểu rất sâu sắc chứ không phải nói chơi đâu, bởi vì từ khi bị tai nạn, em mới biết quý từng giây, từng phút. Cho nên em xin anh, chúng ta hãy tận hưởng mỗi một giây mà chúng ta còn được ở bên nhau đi."

Read more ...

Funny Valentine

Funny Valentine
Katja Ebstein

Read more ...

Bản dạ khúc bí ẩn của Chopin


Những Dạ khúc (Nocturnes) của Chopin - "nhà thơ của cây đàn Piano", thuộc vào số những sáng tác nổi bật nhất của tác giả và cả thế loại này.

Bản nhạc: Chopin - Nocturne Đô thứ Op.48 (Nocturne No. 13, Op. 48 in C Minor 1)
Biểu diễn: Arthur Rubinstein

Đó là tiếng những giọt nước trong đêm, cô quạnh và lạnh lẽo, rơi xuống chậm rãi từ mái hiên, hay là những mơ ước ngọt ngào ấm áp từ sâu thẳm tâm hồn dịu dàng và cao quý của người nhạc sỹ? Đó là những khát vọng tình yêu, những nỗi nhớ nhung bí ẩn được gieo vào lòng người, hay là những đau đớn tê tái được cố gắng vùi lấp bởi một lý trí mạnh mẽ và quả cảm?...
Thật ra, nếu những câu ở trên có thể được dùng để miêu tả một cách trọn vẹn Nocturne giọng Đô thứ Op.48, bản Dạ khúc phức tạp nhất của Frédéric Chopin (22/2/1810 - 17/10/1849)*, thì có lẽ sự tồn tại của ngôn ngữ âm nhạc trong đời sống tinh thần của con người là không cần thiết.
Âm nhạc của Chopin, như lời nhà âm nhạc học Aranovski từng viết, "đi sâu vào tâm lý một cách vô cùng tinh tế, với những sắc thái tế nhị nhất mà người nghệ sỹ khó khăn lắm mới thu nhận được, những rung động của tâm hồn mà không lời nói nào diễn đạt được. Các giai điệu tuôn chảy một cách tự nhiên, âm hình trong trẻo, những nét lướt như những chuỗi ngọc trai trên nền hòa âm mềm mại - tất cả thấm đượm vẻ đẹp trữ tình, được tình cảm con người sưởi ấm."
Những Dạ khúc (Nocturnes) của Chopin - "nhà thơ của cây đàn Piano", thuộc vào số những sáng tác nổi bật nhất của ông và chúng cũng là những tác phẩm nổi tiếng nhất của thế loại dạ khúc. Hình thức chung của những bản dạ khúc này là một phần phát triển kịch tính được xen giữa những chủ đề giai điệu mở đầu và kết thúc. Những giai điệu được hát, hát một cách thực sự trên cây đàn piano, đẹp, thơ mộng, trữ tình và tao nhã. Tính chất hát trong những dạ khúc Chopin vẫn được so sánh với trưng bel canto (hát đẹp) trong âm nhạc quyến rũ của Bellini (nhà soạn nhạc opera Ý nổi tiếng).
Và như nhà soạn nhạc kiêm nghệ sỹ piano vĩ đại Franz Liszt từng viết: "Chỉ duy nhất một thiên tài như Chopin mới đem lại cho thể loại dạ khúc tính chất nhạy cảm tinh tế và tình yêu mãnh liệt nồng cháy đến thế. Các dạ khúc thơ mộng của Chopin không chỉ hát lên những bài ca du dương lòng người với những hoài niệm thanh cao dịu ngọt, mà còn lay động đến tâm trí con người những nỗi day dứt hoang mang đến khó thở."
Không đặc biệt nổi tiếng như Nocturne Đô thăng thứ (được dùng trong bộ phim "The Pianist") nhưng Nocturne Đô thứ Op.48 được các nhà phê bình âm nhạc đánh giá là một trong những cảm xúc tuyệt vời và sâu sắc nhất mà Chopin từng đạt tới, một trong những dạ khúc dài nhất và kịch tính nhất. Nó cũng là một tác phẩm đặc biệt phức tạp về kỹ thuật, đạt đến hiệu quả khí nhạc tinh xảo và ấn tượng mạnh mẽ một cách bất thường.
Mang đặc trưng của một tác phẩm được viết ở giọng Đô thứ, đặc trưng anh hùng ca, quả cảm, gian truân, người ta nhận thấy ở trong nó một bi kịch nội tâm, sự chiến đấu giằng xé giữa tình yêu nồng ấm và nỗi tuyệt vọng đến lặng người. Vẻ ngoài ềm đềm thản nhiên không thể che giấu nổi nỗi đau u uất nghẹn ngào, và chính những giai điệu êm đềm ấy lại đột trở nên xáo động dồn dập, và để rồi, sụp đổ trong những âm hình nghiệt ngã...
* Ngày sinh của Chopin thường được người ta ghi là 22/2 nhưng bản thân Chopin thì luôn đưa ra ngày sinh của ông là 1/3. Điều này đang làm giới âm nhạc có phần bối rối dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh của nhà soạn nhạc piano vĩ đại.

Read more ...

Thiên Chúa, tình yêu và sex trong bài ca Hallelujah của Leonard Cohen


Bài đăng ngày 01/01/2010 Cập nhật lần cuối ngày 22/01/2010 14:10 TU
Ca sĩ Leonard Cohen(DR)
Ca sĩ Leonard Cohen
(DR)
Tại phương Tây, có một bài ca rất được giới trẻ yêu chuộng, đặc biệt vào mùa Giáng sinh. Thoạt nghe, tưởng lầm là một bài Thánh ca, vì cái tên của nó là Hallelujah. Tác phẩm này do Leonard Cohen soạn nhạc và lời. Hallelujah có nghĩa là “Tạ ơn Thiên chúa”.





Tuy nhiên, đằng sau nhiều hình tượng thánh thiện, đây là tiếng kêu não nùng của con người trần tục gọi Thiên chúa, nhưng Ngài vắng mặt, và hoài niệm tình yêu này chỉ còn là đổ vỡ. Nghe kỹ bài Halleluyah, thính giả sẽ khám phá, bài ca này kể về lòng ham muốn, nỗi đam mê nhục dục, bước sa cơ và mất mát trong thân phận bèo bọt một con người khao khát điều Vĩnh Hằng.
Hallelujah trong tiếng Do thái có nghĩa là “Rạng danh Yahveh” và Yahveh là Thiên chúa. Người Do thái thốt lên câu Hallelujah để tỏ lòng biết ơn Thiên chúa.
Alexandra Burke - Hallelujah


Bài ca này có 5 đoạn, trong phiên bản Jeff Buckley.
Đoạn 1 như sau:
I’ve heard there was a
secret chord
That David played,
and it pleased the Lord
But you don’t really care
for music, do you ?
It goes like this
The fourth, the fifth
The minor fall,
the major lift
The baffled king composing
Hallelujah …
Nghe kể rằng có một
hợp âm bí mật
Mà David đã chơi
và hài lòng Chúa
Nhưng em thiết gì
đến âm nhạc, phải không em ?
Này nhé, nó như vậy:
Quãng tư, quãng năm
Điệu thứ trầm,
điệu trưởng vút cao
Vì vua thất sủng soạn bài
Hallelujah …
David là nhân vật trong Kinh thánh. Một số nhà khảo cổ khẳng định đây là nhân vật lịch sử, nhưng quan trọng hơn cả đối với đông đảo người phương Tây, David là biểu tượng của một vị anh hùng, bởi vì theo Kinh thánh, David đã chiến thắng tên khổng lồ Goliath. Văn võ song toàn, David vừa là một chiến sĩ, vừa là nhà thơ và nhạc sĩ. Do đó hình tựong David thường được biểu hiện trong tranh với một chàng thanh niên ôm chiếc đàn harpe.
Trước khi lên làm vua, David phục tùng Vua Saül và cưới công chúa Mikhal, nhưng uy danh của David ngày càng được thiên hạ tán tụng. Vua Saül đem lòng ghen ghét con rể của mình và sai người thủ tiêu David. Nhờ vào Jonathan, David đã thoát nạn.
Do đó, trong bản Hallelujah của Leonard Cohen, David được gọi là vị vua bị thất sủng và trong cơn thử thách, David đã soạn bài Halleluyah.
Đoạn thứ hai như sau :
Your faith was strong but
you needed proof
You saw her bathing
on the roof
Her beauty and the
moonlight overthrew you
She tied you
To a kitchen chair
She broke your throne,
and she cut your hair
Anh from your lips she
drew the Hallelujah
Hallelujah …
Lòng tin của người mạnh mẽ nhưng người vẫn cứ cần bằng chứng
Người nhìn thấy nàng tắm
trên mái hiên
Sắc đẹp của nàng và
ánh trăng đã làm người gục ngã
Nàng trói người
Vào chiếc ghế trong căn bếp
Nàng đập vỡ ngai vàng của người
Nàng cắt tóc người
Và từ đôi môi người
nàng giành lấy câu Hallelujah
Hallelujah …
Hình ảnh “Người đã nhìn thấy nàng tắm trên mái hiên” cũng liên quan đến David. Vì vua , một đêm nhìn trộm Bathsheba đang tắm. Say mê trước sắc đẹp của Bathsheba, David chiếm đoạt nàng và sai người hạ sát chồng của Bathsheba. Vì tội này David phải chịu sự trừng phạt của Chúa.
Kế đến câu: “Nàng đập vỡ ngai vàng của người, nàng cắt tóc người” đề cập đến một nhân vật khác của Kinh thánh là Samson. Người hùng Samson bị Dalila mê hoặc và tước đoạt sức mạnh bằng cách cắt trụi mái tóc của anh. Bởi lẽ bí mật toàn bộ năng lực của Samson nằm ở bộ tóc.
Ở đoạn này, vì một phút yếu lòng trước người đẹp, cả David và Samson sa ngã.
Hoàn cảnh của Samson còn tệ hại hơn David. Sau khi bị Dalila bị mê hoặc và phản bội, Samson đã trở thành bất lực.
Ca sĩ Jeff Buckley(DR)
Ca sĩ Jeff Buckley
(DR)
Đoạn 3 như sau:
Baby I have been here
before
I’ve seen this room,
I’ve walked this floor
I used to live alone before
I knew you.
I’ve seen your flag
on the marble arch
Love is not
a victory march
It’s a cold and
it’s a broken Hallelujah
Hallelujah …
Em yêu, anh đã đến đây
ngày trước
Anh đã nhìn thấy căn phòng này
Anh đã từng bước vào nơi đây
Anh sống một mình
Thủa chưa gặp em
Anh nhìn thấy lá cờ em
cắm trên vòm cẩm thạch
Nhưng tình yêu đâu phải
là hành khúc chiến thắng
Tình yêu chỉ là một Hallelujah
lạnh buốt và tan nát
Hallelujah …
Đoạn 4:
There was a time
when you let me know
What’s really going on
below
But now you never show
that to me do you
But remember
when I moved in you
And the holy dove
was moving too
And every breath
we drew was Hallelujah
Hallelujah …
Đã có một thời em
không hề giấu anh
Những gì thực sự diễn ra
thầm kín
Giờ đây, em chẳng còn để lộ
cho anh thấy nữa phải không em.
Hãy nhớ
khi anh chuyển động trong em
Bồ Câu Thánh
cùng chuyển động theo
Mỗi nhịp thở đôi ta
đều là câu Hallelujah
Hallelujah …
Ở đây, tình yêu đã nguội lạnh cho dù cuộc ân ái đã tạo được Phúc Phận (do hình ảnh Bồ câu Thánh cùng chuyển động theo).
Đoạn cuối như sau:
Maybe there’s a god above
But all I’ve ever learned
from love
Was how to shoot somebody
who outdrew you
It’s not a cry
that you hear at night
It’s not somebody
who’s seen the light
It’s a cold
and it’s a broken Hallelujah
Hallelujah …
Có thể có Chúa trên trời
Nhưng điều duy nhất tôi học được
từ tình yêu
Là thanh toán kẻ nào
cao tay hơn mình
Không phải tiếng khóc
nghe trong đêm tối
Không phải ai đó
tìm được ánh sáng
Nó chỉ là một Hallelujah
lạnh buốt và tan nát.
Hallelujah …
Bài ca kết thúc với trải nghiệm cay đắng : Phải hạ gục, thanh toán đối tượng ta đã trót yêu. Leonard Cohen sử dụng động từ “shoot” tức là bắn bỏ. Khi tình yêu đã trở thành cuộc đối đầu lạnh buốt và đầy đổ vỡ.
Ca sĩ Jeff Buckley(DR)
Ca sĩ Jeff Buckley
(DR)
Jeff Buckley - Hallelujah


Ở đây, cần nhắc lại hình ảnh “Nàng trói người vào chiếc ghế trong căn bếp”. Căn bếp tại Âu Mỹ tượng trưng cho mái ấm gia đình, nơi mọi người họp mặt. Nhưng ở đây, nó là biểu tượng của một cái bẫy, trong đó người đàn bà đã giam hãm người đàn ông, đã trói buộc ông như một loài gia súc. Trong nhiều bài thơ của Leonard Cohen, căn bếp là đấu trường, nơi diễn ra sự đối kỵ không nguôi giữa đôi nam nữ, như nước với lửa.
Xuyên suốt bài ca Hallelujah là chuỗi liên tưởng chuyển hóa từ truyền thuyết Thánh Kinh đến cảnh đời thường, bồi đắp cho nhau để thính giả chiêm nghiệm được một điều : Tình yêu Thiên Chúa và Tình yêu giữa con người đều chung số phận. Sau thưở ban đầu mơ tưởng về một hợp âm bí mật, một đức tin mãnh liệt, một mối tương đồng thiêng liêng, cuối cùng, chỉ còn một Hallelujah buồn thảm và lạc loài.
Về mặt giai điệu và tiết tấu, bài ca Hallelujah mang sắc thái một bài Kinh cầu, một lời nguyện, nói lên khát vọng về sự hòa hợp giữa nhục dục và tâm linh. Nhiều tôn giáo đã tôn vinh sự hòa hợp này, đặc biệt là Ấn Độ giáo, khi sex có khả năng đưa con người đến cõi thần bí. Ở đó, sự viên mãn trong giao hợp cho phép con người thăng hoa, nắm bắt được kích thước Vĩnh Hằng.
Nỗi buồn chuyển tải trong bài ca này cũng chính là sức mạnh của nó, sức quyền rũ đối với thính giả Tây Âu khi nó lay động một mạch tiềm ẩn sâu xa : Mạch ý thức tội lỗi trong quan hệ nam nữ, hay nói đúng hơn, ý thức về sự thất cơ của con người đánh mất Địa Đàng. Theo Kinh Mạc Khải, người đàn bà đã ăn trái cấm và đưa trái cấm cho chồng. Ăn xong, “họ đã sáng mắt và biết rằng họ trần truồng”.
Ca sĩ Leonard Cohen(DR)
Ca sĩ Leonard Cohen
(DR)
Một bài ca bền chắc như chiếc xe Volvo
Bài Hallelujah của Leonard Cohen xuất hiện lần đầu năm 1984. Bản thân ca sĩ Leonard Cohen đã trình diễn hai phiên bản khác nhau. Nghe nói đâu, phiên bản chính của bài ca này gồm 15 đoạn chứ không phải năm đoạn như ca sĩ Jeff Buckley đã trình diễn và được đại đa số nhà phê bình xem là phiên bản xuất sắc nhất. Theo những tiết lộ khác nhau của chính tác giả, thì Leonard Cohen đã tốn từ 3 đến 5 năm để hoàn thành tác phẩm này. Năm 1993, tác giả tuyên bố về bài Hallelujah rằng:
“Bản thân tôi cũng không hề ngờ rằng mình phải lao lực khó khăn đến như vậy, cho đến lúc tôi chợt bắt gặp chính mình, mặc quần áo lót, bò lê bò càng trên sàn nhà, trong một căn phòng cũ nát của khách sạn Royalton, trong tình trạng bất lực, không thể kết thúc nổi một vần thơ”
Hơn 25 năm sau khi được công bố, Hallelujah tiếp tục được cả trăm ca sĩ trình diễn. Năm 2004, phiên bản của Jeff Buckley được tạp chí Rolling Stone’s xếp hạng vào danh sách “500 bài ca hay nhất từ trước đến nay”. Năm 2005, bài này được đứng hạng 10, trong danh sách 10 bài ca hay nhất của Canada, từ xưa tới nay, theo thăm dò của tạp chí Chart.
Năm 2008, vào mùa Giáng sinh, Hallelujah là bài ca đầu tiên chiếm hai ngôi vị , thứ nhất và thứ nhì trong bảng xếp hạng của Anh quốc, nhờ vào hai phiên bản, một của Jeff Buckley và một của Alexandra Burke.
Với bài Hallelujah, Leonard Cohen hoàn thành điều anh mong đợi. Như anh thường nói, anh mang hoài bão xây dựng những bài ca như người ta chế tạo xe Volvo, để có thể bền chắc 30 đến 40 năm sau. Có lẽ bởi vậy mà kể từ năm 1967 đến nay, Leonard Cohen liên tục được ái mộ trên khắp thế giới. Nếu trước đây, Leonard Cohen được công nhận nhờ vào bài “ Suzanne” hay “Bird on a wire”, ngày nay giới trẻ và khán giả 5 châu mê say “Hallelujah” và “ I’m your man”.
Ưu điểm nổi trội của Leonard Cohen vẫn không thay đổi từ đó đến nay: Đó là những từ ngắn ngủi , không quá 3 âm tiết, đôi khi mang chất thơ, đôi khi rất thông tục và những hình tượng trích dẫn từ Kinh thánh, trên một giai điệu, thoạt nghe rất đơn giản, nhưng cứ lấp lánh mãi trong tâm thức người nghe.
Ain’t no cure for love : Không gì chữa trị nổi tình yêu
Sinh ngày 21 tháng 9 năm 1934 tại Montreal, Canada, trong một gia đình Do thái, Leonard Cohen đã thừa hưởng truyền thống sùng đạo và hành trang tinh thần của một dân tộc đã từng lênh đênh suốt chiều dài của lịch sử. Có thể từ đó mà nỗi bất an của Leonard Cohen đeo đuổi anh cho đến tận bây giờ.
Từ rất sớm, mâu thuẫn giữa đòi hỏi của tâm linh và nhục dục đã nằm ở tâm điểm cuộc đời chàng thi sĩ kiêm ca sĩ- Anh đã từng phán đoán “Không gì chữa trị nổi tình yêu”, cho dù Leonard Cohen nổi tiếng là kẻ đào hoa “ a ladies' man”, như anh thú nhận vào năm 1977.
Rất nhiều giai nhân đã đi qua cuộc đời thi sĩ đa tình, nhưng đa sầu đa cảm này. Những người vợ, những người yêu, những cuộc tình ngắn ngủi với các người đẹp tứ xứ, những cuộc gặp gỡ nửa đêm nhân các chuyến trình diễn và ngao du thiên hạ, tất cả đã đến rồi đi, để lại một nỗi trống vắng và ít nhiều xót xa. Cho nên ngày nay, Leonard Cohen vẫn cô đơn như thuở vào năm 1967, anh hát trong bài Bird on a wire:
“Như loài chim đậu trên giây kẽm
Như tên say rượu lạc giữa dàn đồng ca đêm
Tôi tìm Tự Do.”
Trong tình yêu đã đành, anh còn tìm cách chữa trị nỗi hoang mang của mình trong nhà thờ Do thái, hay nhiều năm ròng, trong Đạo Thiền. Thậm chí anh đã cạo đầu đi tu nơi cửa Phật năm 1996.
Năm ngoái 2009, khi đã ngoài 70, Leonard Cohen lưu diễn trên toàn thế giới và giành được thành công ngoài sự mong đợi.
Như anh đã kết luận: “Cuộc đời không thể hoàn hảo, nhưng đổi lại, công việc của mình có thể hoàn thiện.”
Leonard Cohen - I'm Your Man

Read more ...

Tôi yêu em... (Puskin)


ALEKSZANDR SZERGEJEVICS PUSKIN (1799—1837)


Tôi yêu em: đến nay chừng có thể
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai;
Nhưng không để em bận lòng thêm nữa,
Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.

Tôi yêu em âm thầm, không hy vọng,
Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen,
Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm,
Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.


Thuý Toàn dịch


I loved you, and I probably still do,
And for awhile the feeling may remain;
But let my love no longer trouble you,
I do not wish to cause you any pain.
I loved you; and the hopelessness I knew,
The jealousy, the shyness -- though in vain --
Made up a love so tender and so true
As may God grant you to be loved again



Read more ...

Donna Donna - Khát vọng tự do

Donna Donna Donna Donna... Donna Donna Donna Don...

Có lẽ những ca từ trên đã không còn xa lạ gì với những người yêu thích âm nhạc. Ắt hẳn ai trong chúng ta, dù yêu thích những ca khúc xưa cũ của thế kỷ XX hay không, thì đều đã từng một lần nghe qua những giai điệu nhẹ nhàng mà như thở than, như trách móc của ca khúc nổi tiếng Donna Donna - một ca khúc dù đã nghe đi nghe lại ca khúc này hàng trăm lần, nhưng những cảm xúc vẫn nguyên vẹn như mới lần đầu biết đến.

Donna Donna nguyên gốc là một ca khúc có tên gọi Dana Dana cho một vở nhạc kịch được sáng tác vào khoảng năm 1940-1941. Ngày nay, ca khúc được biết đến rộng rãi với nhiều phiên bản cùng mang tên Donna Donna bằng nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Đức, Nga... và cả tiếng Việt. Trong đó, nổi tiếng nhất vẫn là hai bản tiếng Anh và tiếng Pháp.

Bản tiếng Anh có lẽ mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc hơn bản tiếng Pháp, và cũng dễ tiếp cận hơn. Rất nhiều ca sĩ đã thể hiện Donna Donna, và hầu như mỗi người đều thành công trong nỗ lực đưa tình cảm của ca khúc đến với người nghe.

Donna Donna có một giai điệu rất đơn giản ở gam Sol thứ, bất cứ ai cũng có thể hát theo dễ dàng. Mở đầu bài hát tả một bức tranh ít nhiều tạo cho ta một cảm giác lạ:

Rốt cuộc sinh mạng dùng để làm gì khi mà sự tự do của bản thân còn không có được?
On a wagon bound for market
There's a calf with a mournful eye
High above him there's a swallow
Winging swiftly through the sky

"Trên một chiếc xe đẩy hàng ra phiên chợ, có một chú bê bị trói mang đôi mắt thê lương. Cao rất cao phía trên chú có một con chim nhạn lướt nhanh qua bầu trời".

Một cảnh tượng đầy đối lập khiến ta thoáng buồn: chim nhạn trên cao còn bê ở dưới, chim nhạn bay được còn bê thì không, chim nhạn thật tự do trên bầu trời còn bê không có được tự do ấy. Điệu nhạc lúc trầm lúc bổng phải được kết hợp với giọng hát não nề thể hiện cảm giác buồn thảm. Và rồi đoạn điệp khúc cất cao như lời trách móc của chú bê tội nghiệp:

How the winds are laughing
They laugh with all their might
Laugh and laugh the whole day through
And half the summer's night

"Những cơn gió đang cười vui làm sao! Chúng cười với tất cả sức lực của mình, suốt cả ngày và đến tận nửa đêm mùa hạ".

Những cơn gió là những kẻ vô tâm, chúng tận hưởng sự phóng đãng của chính mình mà không để ý đến hoàn cảnh tù túng của kẻ đang mất đi tự do. Thế rồi những tiếng Donna nhẹ như than van cất lên: "Donna Donna Donna Donna... Donna Donna Donna Don..." dài tưởng như bất tận. Nhưng rồi tiếng than đó bị cắt ngang bởi giọng nói của người nông dân:

"Stop complaining", said the farmer
"Who told you a calf to be?
Why don't you have wings to fly away
Like the swallow so proud and free?"

"Thôi phàn nàn ngay! Ai bảo mi là một con bê chứ? Tại sao mi không có cánh để bay đi như chim nhạn thật tự do kiêu hãnh?"

Chú bê tội nghiệp mãi mãi không thể trả lời câu hỏi đó. Tại sao chú lại là một con bê chứ không phải là một con chim nhạn? Tại sao chú lại không thể bay? Tại sao chú phải gánh chịu số phận khổ đau trong khi kẻ khác tự do thật vui vẻ? Những câu hỏi đó ai có thể trả lời thay? Và trước khi kết thúc bài hát bằng một đoạn điệp khúc lặp lại, tác giả bài hát như muốn đưa ra kết luận:

Calves are easily bound and slaughtered
Never knowing the reason why
But whoever treasures freedom
Like the swallow has learned to fly

"Những con bê thật dễ dàng bị trói và giết, chúng không bao giờ biết được lý do tại sao. Nhưng bất cứ ai cũng đều trân trọng tự do như những chú nhạn kia học cách bay vậy".

Bài hát kết thúc như một câu chuyện ngụ ngôn, đồng thoại.


Cảm giác tự do... thật sự rất tuyệt vời.

Đó gọi là số phận ư? Chú chim nhạn sinh ra để bay lượn tự do trên bầu trời cao rộng, những cơn gió tồn tại chỉ để thổi khắp nơi, nhưng chú bê sinh ra chỉ để bị đem ra chợ bán. Rốt cuộc sinh mạng dùng để làm gì khi mà sự tự do của bản thân còn không có được?

Những cơn gió, chú chim nhạn đã có sẵn tự do, làm sao hiểu được cảm giác tù túng của chú bê tội nghiệp? Chỉ có chú bê và người nông dân là hiểu được và trân trọng thực sự giá trị của sự tự do tự tại, đáng tiếc là bê con không bao giờ có được sự tự do vô cùng quý giá ấy.

Cảm giác tự do... thật sự rất tuyệt vời.

Read more ...

Salut D'amour

Salut D'amour
Composer: Edward Elgar
Performer: David Garrett


Read more ...

Website counter